Hạnh phúc dài lâu

Hạnh phúc dài lâu
Thì thầm em hỏi nhỏ, Sao mặt hồ gợn sóng? Anh trả lời lấp lửng, Vì sóng cứ hôn bờ, Em nũng nịu ứ ừ, Khác cơ không phải thế, Anh nghiêng nhẹ mái đầu, Hôn môi em nồng cháy, Em ơi em có thấy, Sóng đang dậy trong tim
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quê hương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quê hương. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2017

CHÚA TRỊNH, PHỦ TRỊNH VÀ...


TP - Bao ý nghĩ cứ ập về khi nhận được giấy mời dự Lễ kỷ niệm 447 năm ngày giỗ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm - chúa tiên khởi 12 chúa Trịnh với 249 năm giúp vua Lê, góp phần giữ bền xã tắc Đại Việt, làm nên giai đoạn lịch sử có tên Lê Trung Hưng…
Một góc Phủ Trịnh.
Nối máy cho TS Trần Quang Trọng, Giám đốc Di sản Thành Nhà Hồ, thành viên ban tổ chức Lễ kỷ niệm, ông giám đốc vắn tắt cho biết dịp này có nhiều cái mới. Dịp này, Thanh Hóa tổ chức Hội thảo Di sản Thành Nhà Hồ và Khu Di tích Phủ Trịnh - Nghè Vẹt trong quy hoạch bảo tồn với phát triển du lịch. 
Hội thảo có sự tham góp của các nhà sử học, nghiên cứu, quản lý, các cơ quan chuyên môn với nhiều tham luận, trong đó có Vị trí Thành Tây Đô thời Lê Trung Hưng và vai trò của Thái vương Trịnh Kiểm; Những giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật của Phủ Trịnh; Từ Ly cung đến Thành Nhà Hồ kết nối con đường di sản; Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn, phát triển du lịch...
Nghĩ cũng hay hay. Chớm tiết Thanh minh này được về thăm lại làng Biện Thượng có di tích Phủ Trịnh - Nghè Vẹt,  quê hương của chúa tiên khởi Trịnh Kiểm. Tên làng Biện Thượng có từ thuở Ái Châu nhà Đường đô hộ. Thời Lê sơ còn giữ tên ấy nhưng sau đó bẵng đi vì nhiều nhẽ. Mãi đến năm 1820 Minh Mạng mới lấy lại tên Biện Thượng. Tháng 1/1946, Quốc hội khóa đầu tiên sức cho nhiều địa phương cả nước đặt tên mới. Biện Thượng thành xã Vĩnh Hùng (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) cho đến nay.
Biện Thượng xứ Thanh với vời vợi Phủ Trịnh thành Thăng Long… Phủ Trịnh Thăng Long, công trình kiến trúc đồ sộ bậc nhất thời Lê Trung Hưng, được xây dựng trong một thế kỷ rưỡi (1592-1749). Như mô tả của S.Baron, thương gia Anh (đến Thăng Long năm 1680), đại để, Phủ Chúa ở trung tâm thành phố Kẻ Chợ. Vương phủ trải dài từ khu vực phố Cửa Nam, Hàng Bông ngày nay qua phố Phủ Doãn, Quang Trung, ra tận hồ Hale (hồ Thiền Quang) và xuyên xuống phố Bà Triệu, chia ra ba cửa chính: Chính Nam (phố Bà Triệu), Tuyên Vũ Môn (có Ngũ Long Lầu, cao 70m, là Bưu điện Hà Nội nay) và Diệu Đức (thông ra Cửa Nam kinh thành Thăng Long). Tổng số có 52 cung, phủ, điện, đài, vườn ngự uyển, hồ, trại lính...
Nhưng công trình kiến trúc đáng nể ấy đã tan tành. Hoàng Lê nhất thống chí từng than tiếc khi chỉ đích danh Lê Chiêu Thống đã ngầm sai người phóng hoả đốt hết phủ chúa. Khi phủ cháy, khói lửa bốc lên ngút trời, hơn mười ngày chưa tắt.
Độc đáo là từ thời chúa Trịnh Tùng, một hành cung quy mô khá hoàng tráng đã được xây dựng tại Biện Thượng. Hành cung Phủ Trịnh tại Biện Thượng được xây dựng trên khoảng đất rộng khoảng 10ha, gồm nhiều khu vực: Từ phủ - nơi chúa làm việc, tiếp khách; Nội phủ - nơi ở của nhà chúa; khu làm việc của các quan; khu thờ cúng; khu vườn hồ thưởng ngoạn; khu giải trí… 
Để xây dựng công trình Phủ Trịnh ở Biện Thượng, các chúa Trịnh đã huy động những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhất về các mặt thiết kế, chạm trổ, sơn son thếp vàng, điêu khắc, hội hoạ... Hành cung là nơi các chúa Trịnh thi thoảng về bái yết tiên tổ sơn lăng, tiện thể luôn việc nghỉ ngơi điều hành công việc ngoài Phủ Chúa Thăng Long kiểu chạy ngựa trạm.
Phủ Trịnh Biện Thượng bị phá hủy từ khi nào? Có đồng thời với việc thiêu hủy Phủ Chúa ở Thăng Long? Và ai phá? Xin khất một dịp khác sẽ hầu bạn đọc!
… Ngước lên bức hoành Tiên tổ thị vương ngay ngắn ở gian chính giữa của 7 gian nhà được gọi là Phủ Trịnh - Di tích lịch sử xếp hạng năm 1995 thấy lắm ngữ nghĩa. Tiên tổ ta vốn là vua? Chắc chẳng có hơi hướng ấm ức và vỗ ngực kiểu nghĩa lộ như thế? Từng tự nguyện giúp các triều vua Lê suốt 249 năm. 
Từng tâm niệm thờ Phật thì được ăn oản như lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm? Vua Lê Hiển Tông từng cảm thán Chúa lo cái lo cho ta cơ mà? Tôi đồ rằng bức hoành này có nguyên ủy và dựa vào hơi hướng cái câu tiên tổ thị hoàng trong Kinh Thi. Nghĩa là tổ tiên ta công tích rực rỡ to lớn thay. Hoàng ở đây là rực rỡ, to lớn, không phải là vua. Chắc có sự chép nhầm lẫn, hiểu lầm chi đó? 
Tự dưng nhớ lại hai chuyện cũng chả vui vẻ gì. Dạo ấy, Phủ Trịnh xập xệ, dột nát quá. Không hiểu các ông trong ban quản lý bàn định ra sao mà đùng cái, hô bà con hạ giải - nghĩa là dỡ toang Phủ xuống. Làng Vĩnh Hùng ban đêm tức tốc cho người ra Hà Nội gọi người của làng mình là ông Lê Tiến Thọ khi đó đương chức Thứ trưởng Bộ Văn hóa không quên ghé nèo tôi về.
Về đến quê, ông thủ từ cùng chức sắc địa phương chỉ vào đống gỗ mục ngổn ngang chất giọng ai oán nhưng như ngầm ra lệnh Dân làng chúng tôi có cả mấy chục lần kêu xin sửa sang Di tích lịch sử quốc gia này rồi nhưng mãi không thấy hồi âm. Nay nhờ các anh ra Bộ Văn hóa kêu hộ…
Ông Tiến Thọ không dám nói gì cả. Ra Hà Nội, không biết ông đã làm, đã nghĩ những gì mà ông xui tôi gặp ông Phạm Quang Nghị - thủ trưởng trực tiếp của ông Thọ khi ấy đương kim Bộ trưởng Bộ Văn hóa. Tôi không chịu vì phận mình tôm tép, nói ai nghe? Chắc hẳn ông Nghị với ông Thọ đều ngại mang tiếng? 
Ông Nghị dân Thanh Hóa. Còn ông Thọ là người Vĩnh Hùng. Chuyện thì dài, khi khác kể lại. Nhưng đại để, dân làng thúc ép quá, Thứ trưởng Tiến Thọ liều ba thì tôi liều bảy, cứ kêu. May mà một thời gian sau, có lẽ cũng đúng luật, phải nhẽ, kinh phí nhà nước rót cho 300 triệu đồng cộng với việc xã hội hóa của dòng họ Trịnh, Phủ Trịnh đã được phục dựng 7 gian như bây giờ.
Lại nói tượng 11 vị chúa Trịnh đang thờ ở Phủ Trịnh (tượng Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm có từ trước đó) là công của cụ Trịnh Doanh quê ở Yên Lộ, Hà Đông, hậu duệ của dòng chúa Trịnh Căn. Viết đến đây xiết bao cảm phục con người hằng tâm hằng sản ấy nay đã là người thiên cổ. Bao năm chứng kiến Phủ Trịnh quê chúa dột nát không có tượng thờ, cụ áy náy, lo buồn. Rồi cụ âm thầm tích cóp, nhờ xin công đức nơi này chỗ khác rồi thăm gặp các nhà điêu khắc, làm sử tiếng tăm… 
Một việc hy hữu loang ra là cụ Trịnh Doanh đã chủ sự công trình chế tác 11 vị chúa Trịnh từ Thành tổ Triết vương Trịnh Tùng đến vị chúa cuối là Án Đô vương Trịnh Bồng.  Nếu nói vị chúa nào cũng uy nghi thần thái cũng được nhưng khi chiêm bái, người rành sử đều cảm nhận ở mỗi vị đều toát yếu không nhiều thì ít phảng phất tính cách cũng như thăng, trầm đặc thù mỗi giai đoạn lịch sử. (Xin xem thêm Chuyện rước 11 vị Chúa Trịnh về Biện Thượng. Cùng tác giả. Tiền Phong 12/3/2005).
Dịp giỗ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm 18/2/2005 (âm lịch), dòng họ Trịnh Hà Đông tổ chức long trọng việc rước 11 tượng chúa về quê tổ Biện Thượng. Gần hai trăm cây số từ Hà Đông về Vĩnh Hùng hanh thông nhưng lộ trình đã tắc tị mấy mét trước Phủ Chúa. Tin dữ báo cho tôi vào 12 giờ khuya đêm trước ngày giỗ.
Lý do rất đơn giản nhưng cái lý lại chắc khừ rằng, các nhà chức việc xứ Thanh, cụ thể là Sở Văn hóa ách lại việc đưa tượng vào Phủ với lý do làm theo luật, bởi 11 pho tượng kia ai dám chắc là tượng chúa Trịnh Tùng, Trịnh Bồng… Rằng đây là di tích lịch sử quốc gia, không thể tùy tiện đưa tượng thờ vào nếu chưa qua kiểm định, thẩm tra của Sở và Bộ.
Cậy chỗ quen biết, tôi nghĩ chỉ có cách điện cho ông Bộ trưởng Bộ Văn hóa Phạm Quang Nghị theo lời xui của ông Trịnh Hưng, Chủ tịch Hội đồng tộc Trịnh xuất phát từ tấm lòng sốt mến tiền nhân và lịch sử, bà con tộc Trịnh đã… Hiện 11 pho tượng đã làm thủ tục hô thần nhập tượng và đang tập kết trước Phủ… Để an lòng dân và đúng ngày giỗ của Minh Khang Thái vương, tha thiết đề nghị Bộ trưởng cho phép định vị 11 pho tượng Chúa trong Phủ. Sau lễ, sẽ chấp hành việc thẩm định theo quy định của các cơ quan trách nhiệm.
Tò, te tý… Điện thoại cầm tay của Bộ trưởng Nghị tắt máy. Có lẽ khuya quá rồi…
Nối máy với vài ba nhân mối khác. May thay, quãng gần 2 giờ sáng thì thông được với máy ông Bộ trưởng. Hóa ra, ông đang đi kinh lý ở một tỉnh phía Nam. Sau đó, không rõ là từ ông Bộ trưởng đã qua những kênh nào, gần sáng hôm ấy, 11 pho tượng đã an vị trong Phủ chúa.
12 năm đã qua. Tấm lòng cùng hương khói du khách và bà con tộc Trịnh khắp cả nước hình như đã cầu tất ứng cảm tất thông thấu đến tiên tổ nên thần thái các vị Chúa vẫn an nhiên như cái đêm vào Phủ an vị? May nữa, cũng chả ai ỏ ê gì đến việc thẩm định với xét lại 11 pho tượng cả.
Một việc vui cuối năm ngoái, UBND tỉnh Thanh Hóa chính thức khởi công công trình bảo tồn, tu bổ, tôn tạo Khu di tích Lịch sử quốc gia Phủ Trịnh. Đây là dự án được UBND tỉnh phê duyệt từ cuối năm 2015 với tổng kinh phí gần 300 tỷ đồng. Khu di tích sẽ được bảo tồn, tôn tạo các hạng mục: Phủ từ, tả vu, hữu vu, điện thờ Thái Miếu, nhà bia, hồ nước, sân lễ hội, cổng, nhà đón tiếp, nhà trưng bày, sân tường cùng hạ tầng kỹ thuật, cây xanh, khuôn viên... trên tổng diện tích 3,16 ha. Dự án sẽ được triển khai trong 5 năm.
Tôi đang ngồi với Hoàng Tuấn Liêm - người từng chịu trách nhiệm đảm nhận tu sửa, phục chế chính điện Lam Kinh nay được trao trọng trách phục chế Phủ Trịnh. Chọn mặt gửi… Phủ? 
Cái duyên để đến được Phủ Trịnh có phải Liêm và thuộc hạ từng làm hợp lý đến từng mi li mét công trình chính điện Lam Kinh mà bây giờ du khách khá hài lòng? Liêm đang nói thêm về đất Biện Thượng nguyên là một nhánh của dãy Trường Sơn đâm ngang ra biển, giáp ranh hai tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình.
Làng Gia Miêu - quê hương của nhà Nguyễn lại ở phía Nam của dãy núi. Chốn cũ của họ Trịnh cũng chung mạch với nhà Nguyễn được núi non, sông nước bao quanh, che chở, giữ cho lộc trời bền lâu. Và Phủ Trịnh mai kia sẽ là điểm nhấn, là vạch nối có lý trong mạch liên kết du lịch mà hội thảo đương bàn.

Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

ĐẤT NƯỚC MÌNH NGỘ QUÁ PHẢI KHÔNG ANH

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi...

Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay...

Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa...

Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu...

Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu....?



Trần Thị Lam

Thứ Năm, 15 tháng 5, 2014

THƠ VỀ VỤ GIÀN KHOAN HD-981

Các trang báo lớn ngoài-trong,
Đăng tin sự kiện những dòng như sau:
Trung Hoa không nói một câu,
Đưa giàn khoan tới tìm dầu Việt Nam.
Trung Hoa kế hoạch cho làm:
Ngày Hai, hôm đó tháng Năm lúc này,
Giàn khoan định sẵn trước đây,
Bốn Mươi tầu lớn lúc này được giao.
Đưa giàn khoan tới vùng nào?
Chính là vùng biển hướng vào Việt Nam.
Giàn khoan Trung Quốc cho làm,
Hải Dương_Chín-Tám-Một tầm loại trung.
Đoàn tàu hộ tống đi cùng,
Nhiều tàu quân sự được dùng đem theo.
Bốn Mươi tàu lớn đã nhiều,
Ba ngày sau đó lại điều tăng thêm.
Tám Mươi tàu lớn làm nền,
Máy bay yểm trợ phía trên bầy trời.
Nhiều tầu quân sự không lời,
Tháo che vũ khí ra phơi sẵn sang.
Đoàn tàu định trước vội vàng,
Vào sâu địa phận rõ ràng nước ta.
Ở nơi vị trí biển nhà,
Miền Trung nước Việt Nam ta lúc này.
Một Trăm Hai Mốt số đây,
Chính là hải lý giáp ngay đất liền.
Đoàn tàu Trung Quốc uy quyền.
Việt Nam ứng phó làm liền chặn ngăn:
Vài tàu cảnh sát lại gần,
Tiến hành thông báo chặn ngăn việc này.
Nhưng mà Trung Quốc làm ngay,
Vòi rồng tàu lớn thẳng tay tức thì.
Máy bay tiêm kích thị uy,
Cùng tàu quân sự tức thì tới ngay.
Bạt che súng lớn lúc này,
Bỏ ra uy hiếp, việc gây bất ngờ.
Phải chăng tính trước thế cờ,
Tàu kia Trung Quốc bất ngờ đâm ta.
Đương nhiên cảnh sát quốc gia,
Một tàu hư hại khiến ta trạnh lòng.
Sáu người cảnh sát thương vong,
Bất ngờ sự kiện đau lòng sảy ra.
Đưng nhiên Chính Phủ của ta,
Tiến hành họp báo để mà thông tin.
Hàng trăm báo mạng, báo in,
Đưa ra bình luận thông tin kịp thời.
Người dân nước Việt nhiều nơi,
Xuống đường phản đối cách người Trung Hoa.
Trong khi tình thế diễn ra,
Trung Hoa tiếp tục khích ta lúc này.
Dùng nhiều tàu lớn ngăn vây,
Đâm tàu ta tới nơi này giàn khoan.
Thêm Ba chiến sĩ Việt Nam,
Bị thương trong lúc đang làm chặn ngăn.
Trung Hoa tiếp tục dụng văn,
Tăng ba hải lý vùng gần giàn khoan,
Tạo vùng cấn tới an toàn.
Rồi cho tuyên bố họp bàn một khi:
Những tàu nước Việt rút đi,
Và rằng thế giớ thôi thì đừng lo,
Việc riêng hai nước nhỏ – to,
Lặng thinh tiếp tục phớt lờ luật chung.
Nhưng mà thế giới đã cùng,
Nhớ quyền Luật Biển sống trung lâu dài.
Luật năm: Một chín tám hai,
Hai trăm hải lý vành đai đất liền.
Vậy mà Trung Quốc có quyên,
Hòa bình thế giới bình yên thế nào?
Rất nhiều báo chí nói sao,
Hoa kỳ, Nhật bản…báo nào đăng tin?
Không cần xem xét kiếm tìm,
Thấy ngay dư luận đâu im chuyện này.
Có nhiều quan ngạy thấy ngay,
Cho rằng nguy hiểm lúc này chỉ ra.
Nhiều bài phân tích gần xa,
Nói về đất nước Trung Hoa lúc này:
Trung Hoa thay đổi gần đây,
Nhật kia cũng chịu lúc này đâu yên.
Philippin thì Trung Quốc đòi quyền,
Tại nơi Bãi Cạn đã quen việc này.
Lưỡi Bò, Trung Quốc tự xây,
Biển Đông ôm trọn trong tay chưa rừng.
Âm thầm chia rẽ một vùng,
Vùng Đông Nam Á nội lòng bất an.
Làm sao ai thấy an toàn,
Khi mà Trung Quốc khôn ngoan kiểu này?
Những người Trung Quốc có hay,
Đưa ra sách lược thế này là sao?
Nội trong Trung Quốc vùng nào,
Người dân chưa phục tại sao không lường?
Còn về các nước Đông Dương,
Trung Hoa chọn cách con đường ngăn vây?
Việt Nam là bạn thời đây,
Mà sao Trung Quốc thẳng tay lạ thường?
Long dân hai nước tổn thương,
Mất đi hòa khí  quê hương láng giềng.
Chủ quyền là thứ thiêng liêng,
Việt Nam kiên quyết láng giềng hiểu cho!
Còn về thế sự bàn cờ,
Có nhiều cách khác đừng vơ đũa cầm.
Trung Hoa phát triển vượt tầm,
Đừng quyên Nhân-Nghĩa cái Tâm con người.
Việt Nam không thể đứng chơi,
Đừng nên dồn ép, bạn ơi đừng làm.
Thiêng liêng biển-đảo Việt Nam,
Việt Nam kiên quyết không cam bao giờ!
Trung Hoa phát triển thế cờ,
Việt Nam mong muốn cậy nhờ Trung Hoa.
Điều này có lợi hai ta,
Cần nhìn đại cục mới là trí cao.
Người dân nước Việt ước ao,
Việt nam-Trung quốc hàng rào gần nhau,
Đừng làm ra những nỗi đau,
Sợi dây đoàn kết cùng nhau đang cầm.
Việt Nam mong muốn từ tâm,
Đừng làm đứt nó sai lầm sẽ đau.
Việt Nam kiên quyết trước sau:
Chủ quyền Tổ quốc cùng nhau giữ dìn.
Phải cần có những niềm tin,
Đừng làm tam vỡ trái tim lòng người!
(Nguồn: http://nguyentandung.org/)
Tàu Trung Quốc hung hăng kéo ra biển Đông bảo vệ giàn khoan HD-981


Thứ Năm, 26 tháng 4, 2012

Nghề dệt chiếu quê tôi xưa và nay

Quê tôi nằm gần cuối của huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa. Là một xã thuần nông với nghề chính là trồng lúa và hoa màu. Tuy vậy, thu nhập từ các hoạt động thuần nông đấy chẳng bao giờ làm thay đổi được diện mạo của làng quê nghèo túng. Cũng thật may mắn khi chúng tôi có nghề phụ đấy là nghề trồng cói và dệt chiếu. Đến bây giờ nói là nghề phụ nhưng thực chất đấy mới là nghề mang lại một diện mạo mới cho cái làng quê xưa kia chỉ thấy nhà tranh và vách đất.  
Từ khi trồng cói đến khi thành một chiếc chiếu là cả một công đoạn dài, mất rất nhiều công sức và thời gian. Vất vả là vậy nhưng nghĩ đến nó mang lại cuộc sống ấm no hơn nên mọi người hăng say làm việc mà không kể ngày đêm, sáng tối. Để có một sản phẩm mang ra thị trường đó là cả một quá trình làm việc vất vả và mệt nhọc. Khi dệt chiếu thì nhẹ nhàng hơn với công đoạn trồng cói, trồng đay vì dù sao cũng được ngồi trong nhà làm. Tuy vậy, để có nhiều sản phẩm trong một ngày thì người dân quê tôi nhà nào cũng phải thức khuya dạy sớm, tích cực làm việc mà không quản ngại khó khăn.
Để có một chiếc chiếu thì bao giờ cũng cần hai người mới hoàn thành được, một người vai trò là dệt, một người là đưa. Một ngày, gia đình nào tích cực thì có thể dệt được từ 5-6 chiếc. Có được một số lượng như vậy có thể phải dạy từ rất sớm (4-5h sáng) và khi nghỉ ngơi thì thời gian cũng vào khoảng 11h đêm. Dệt chiếu thủ công thì vất vả nhiều, từ khâu chuẩn bị nguyên liệu cho đến khi đưa ra thị trường. Muốn đưa ra thị trường thì người dân quê tôi phải dạy từ rất sớm từ 2h sáng đèo chiếu lên chợ cách nhà khoảng gần chục cây số để bán. Lác đác đâu đấy vài người buôn chiếu đi vào tận trong làng để chọn mua những đôi chiếu có chất lượng tốt nhất. Cũng phải khẳng định một điều chiếu được dệt thủ công có chất lượng rất tốt và thời gian sử dụng rất dài.


Dệt chiếu thủ công
Hai ba năm trở lại đây nghề dệt chiếu quê tôi đang có những thay đổi đáng kể với sự góp mặt của máy móc. Giờ đây mỗi lần về quê tôi không còn bắt gặp những gia đình dệt chiếu thủ công như ngày trước nếu có chăng cũng có một vài nhà vẫn giữ được nếp dệt chiếu xưa kia. Chân thành mà nói dệt chiếu bằng máy đã đưa năng suất sản phẩm tăng vọt. Và cũng từ đây phương thức dệt chiếu thủ công ở quê tôi đang dần bị thay thế bởi máy móc. Trong ngày một người dệt chiếu bằng máy năng suất gấp 10 lần hai người dệt thủ công.  Điều này cũng giúp người dân không phải thức khuy dạy sớm dệt chiếu, mà tập trung nhân lực tạo nguồn nguyên liệu cung cấp cho các gia đình có máy dệt chiếu. Có thể nói đó là một bước phát triển mới đối với nghệ dệt chiếu quê tôi. Tuy nhiên, cũng từ đây mà chất lượng của sản phẩm làm ra đã không còn được tốt như những chiếc chiếu từ dệt thủ công mà ra. Những chiếc chiếu do máy dệt rất mỏng thêm vào đó là sự có mặt của các sợi hóa học làm cho tuổi thọ của chiếc chiếu vì thế mà ngắn đi. Có rất nhiều điểm hạn chế so với dệt thủ công nhưng giá trị mà sự có mặt của máy móc mang lại là giải phóng sức lao động của con người và tăng năng suất lao động. Đó cũng là giá trị lớn nhất mà nghề dệt chiếu bây giờ đang hiện hữu trên mảnh đất quê tôi.

Dệt chiếu bằng máy

Tiêu thụ sản phẩm
Trang trí cho chiếc chiếu

Tạo ra các cây cói có màu

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011

Kể chuyện Ngôn ngữ của làng tôi

Ai cũng biết dân xứ Thanh có giọng nói "rất nặng", giọng nói không được trong trẻo, nhẹ nhàng và chuyện nhầm dấu hỏi, dấu ngã là hết sức bình thường. Nhưng cũng không phải ai cũng biết có những câu, những từ mang nhãn hiệu "hàng độc" của người Thanh Hóa mà làng tôi là đặc trưng nhất cho loại hình ngôn ngữ này. Tất nhiên xin kể ra một vài câu chữ mang tính chất giải trí và cho thấy sự đa dạng của ngôn ngữ Việt Nam chứ không có hàm ý chê giọng nói người dân quê mình. Ông bà đã có câu thường dành cho những người đi xa câu "chém cha không bằng pha tiếng" nên cháu đây không dám và cũng không có ý chê bai.
Ở quê tôi thì không có khái niệm dấu ngã khi phát âm, vì không thể phân biệt được, tuy nhiên khi viết thì rất đúng chính tả. Sự nhầm lẫn về dấu, về chất giọng phát âm là mọi người dễ nhận biết nhất nhưng còn một cái nhầm nữa khi nói đó là nhầm về vần, ví dụ: tên cố ấy là "Liên" thì quê tôi nói là "Lin" hay "Kiên" là "Kin"...Xin đưa ra một số câu mà giờ nhắc lại bản thân tôi vẫn thấy buồn cười: Răng mi đâm vô đích tau-Sao mày tông vào đít tao; Viền lanh không trời tún-Về nhanh không trời tối; Cẳn thặn không chết đún-Cẩn thận không chết đuối; Nhà choa và nhà bay-Nhà tao và nhà mày; Bữa mô mi viền-Hôm nào mày về; Mi có tinh không-Mày có tin không(nghe câu này hơi ghê); Thằng tuyệt tê-Thằng ôn kia; O đi mô đớ-Cô đi đâu đấy...đó là một số câu mang tính thông dụng còn về từ thì có rất nhiều mà khi nói ra nhiều người ở địa phương khác không hiểu được:
Con muỗi-con moản, cái mũi-cái mủn, cái lưỡi-cái liển, cái môi-cái mui, chị gái-chậy gái, đi cấy-đi cấn, đi gặt-đi cắt, uống thuốc-tiêu thuốc, đám cưới-đám cướn, thịt trâu-thịch tru, cái chậu-cái chạu, cây cói-cây lác, đi chăn trâu-đi giử tru...
Đối với nghĩa của một số từ cũng có sự khác nhau, ví dụ: từ Đéo ở miền Bắc thì từ này chỉ đơn thuần là văng tục, chửi bậy nhưng khi bắt đầu vào đến Thanh Hóa từ này còn mang hàm ý nói về quan hệ tình dục giữa hai người.
Nói đến ngôn ngữ Việt Nam là nhắc đến sự đa dạng và đó cũng là đặc trưng của vùng miền. Do đó việc hiểu từ ngữ của các vùng cũng là việc hết sức quan trọng cho mỗi chúng ta, đặc biệt là các nhà văn hóa học và dân tộc học. Có hiểu được thì chúng ta mới thấm được cái văn hóa của vùng đó và hiểu được sẽ tránh được những tình huống dở khóc, dở cười.

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2011

Mỗi độ rươi về

"Tháng chín ăn rươi, tháng mười ăn nhộng"
hay
"Bao giờ cho đến tháng mười, bát cơm thì trắng, bát rươi thì đầy"
Trong chúng ta chắc hẳn nhiều người còn chưa biết đến con rươi là gì và càng không biết nguồn gốc của loại đặc sản này từ đâu mà có. Hàng năm, cứ vào dịp tháng 3 và tháng 10 (âm lịch),  người dân quê tôi lại có dịp nô nức đi vớt rươi vui như đi hội.

Rươi nguyên chất
Rươi được xuất hiện ở vùng nước ngọt vào thời gian trên khi thời tiết giá lạnh, trời có mưa và nước sông dâng cao thì rươi lại xuất hiện. Thực ra, rươi là một loại côn trùng từ dưới đất chui lên nhưng tôi cũng không rõ từ khi nào mà người dân quê mình đã biết rươi là loại đặc sản, một loại côn trùng mang lại giá trị kinh tế rất cao. Chỉ biết từ bé đến khi lớn lên cứ mỗi độ rươi về tôi cũng lon ton đi chuẩn bị dụng cụ để bắt rươi. Thời gian rươi xuất hiện không lâu, vào tháng 3 tháng 4 rươi thường xuất hiện 1-2 ngày, vào tháng 10 thì rươi xuất hiện nhiều hơn và thời gian thường 3-4 ngày. Từng đấy thời gian cũng đủ để biến quê tôi trở thành những ngày hội thực sự, dù thời tiết có lạnh giá đến mấy nhưng nghĩ đến giá trị mà con vật "lạ lẫm" này mang lại thì ai ai cũng hào hứng. Dưới các cánh đồng người bắt rươi đông như trẫy hội, trên đê thì người mua kẻ bán hết sức nhộn nhịp, tiếng mua bán, tiếng trò chuyện, tiếng la hét...ồn ào cả một vùng quê.

Vui như đi hội
Rươi xuất hiện trên các cánh đồng, trên sông, những nơi nước chảy. Dụng cụ vớt rươi cũng hết sức đơn giản dùng một tấm vải của chiếc màn đã cũ làm thành cái vợt, dùng vải màn vì đây là loại vải thoát nước tốt nhất và mềm mại phòng cho rươi không bị vỡ ra, vì giá trị của rươi nằm ở bụng sữa nếu nó bị vỡ ra thì không còn giá trị. Vì vậy, mà các thùng đựng rươi thường là các thùng xốp, rươi gặp môi trường nước mặn thì rất dễ bị vỡ. Cách vớt rươi bằng vợt là phổ biến nhất nhưng bắt được ít hơn là dùng tấm lưới lớn chắn những nơi nước chảy, những nơi mà rươi thường xuyên bơi qua.

Say sưa tìm bắt
Có thể coi trong các loại đặc sản thì rươi bây giờ xếp vào loại có giá trị kinh tế rất cao, hiện tại một kg rươi có giá trị từ 280.000-300.000đ, nói là một kg nhưng thực chất trong đó còn có nước, 1kg thường vào khoảng 3 bát con. Những ngày có rươi người dân quê tôi thường dừng tất cả các hoạt động khác để bắt rươi, thực sự giá trị mà rươi mang lại khiến người dân hết sức hào hứng. Như gia đình nhà bác tôi quanh năm với nghề sông nước nên mỗi độ rươi về đã mang lại cho gia đình một nguồn thu đang kể, như mùa rươi tháng 10 năm 2010 chỉ trong vòng ba đêm nhà bác đã có thu nhập hơn 70 triệu, một con số đáng mơ ước. Dù nhiều hay ít thì người dân ai cũng có thu nhập mỗi độ rươi về. Giá trị thực của rươi thật lòng không ai biết, bởi người dân bán ngay tại nơi mình vừa bắt được và rươi còn được bán qua nhiều tay buôn nhưng dẫu sao nó cũng đã mang lại cho người dân một nguồn thu đáng kể.

Mua bán tấp nập
Rươi được chế biến thành nhiều món hấp, kho, chả rươi, làm mắm...ở quê tôi món phổ biến là rươi kho và làm mắm. Món kho được tiến hành ngay khi rươi còn sống, thêm các lá đi kèm, gia vị đưa lên bếp kho khoảng một tiếng sau đã có món rươi kho ngon lành, rươi kho được ăn kèm với bánh đa. Đối với mắm rươi thì sau một thời gian (vài tháng) khi rươi biến thành mắm mang ra dùng, mắm rươi thường được dùng làm đồ chấm của hành muối, cà, chuối xanh...Những ngày tết đến gia đình nào có hũ rươi muối thì thật là tuyệt, rươi muối cùng với nải chuối xanh là món ăn mà các mâm rượu "khoái" nhất, chỉ cần hai món đó đi cùng nhau thì rượu say khi nào không ai hay.
Do rươi mang lại thu nhập cao nên người dân cũng ít trữ trong nhà mà khi có là bán ngay, do vậy mà rươi có mặt trên các mâm nhậu cũng vì thế mà ít đi, gia đình nào có khách khi khách ra về mà có một lọ mắm rươi làm quà thì rất tuyệt. Những người dân xa quê hương mỗi dịp về thăm quê đều muốn được thưởng thức lại món rươi và mong có một lọ mắm rươi mang đi. Ai đi xa mỗi khi nhắc đến mùa rươi thì ai cũng bùi ngùi nhớ quê nhớ hương vị rươi nhớ mùa rươi quê mình.

Món ăn bắt đầu được chế biến

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

Mùa cói quê tôi

 Đã từ lâu ai cũng biết nghề làm muối là một nghề vô cùng cực nhọc, bởi tính chất của công việc thì ai cũng biết, người làm muối luôn phải phơi mình dưới cái nắng chói chang của mùa hè, thêm vào đó là hơi nóng của những bãi cát dài hắt lên làm cho cái vất vả được nhân lên bội phần. Nhưng không nhiều người biết về nghề làm cói, cái nghề cực nhọc không kém nếu không muốn nói là vất vả hơn rất nhiều.  Những tháng hè nóng nực là những ngày người trồng cói gồng mình lên để làm việc. Thời gian làm việc gần như không tưởng, nhiều gia đình thức dậy từ 2h sáng chuẩn bị những thứ cần thiết cho một ngày làm việc ngoài đồng cói: liềm, bàn chẻ cói, bạt che nắng, đèn pin, nước uống, đồ ăn sáng...và cũng không quên chiếc điếu cày cho giây phút giải lao.

Đồng cói
Giờ đi làm sớm không có nghĩa là giờ về cũng sớm, những ngày nắng to, nhiệt độ cao là những ngày "hạnh phúc" của người làm cói, không khí làm việc hăng say để "chạy đua" với thời tiết. Dưới cái nắng như thiêu như đốt của dải đất miền Trung, cùng với những cơn gió lào khô rát, người làm cói vẫn miệt mài với công việc mưu sinh. Có khác nghề làm muối ở chỗ khi trời nắng to người làm cói dùng bạt căng lên che cho mát(tất nhiên chỉ một không gian rất nhỏ), đủ che cho một, hai người. Công đoạn đầu tiên là cắt cói, công đoạn này thường diễn ra vào lúc trời còn mơ sáng khi thời tiết mát mẻ, nhiều gia đình dùng đèn pin để cắt cói.

Công đoạn cắt cói
Buộc thành từng bó
Sau khi cắt cói được nhiều đến công đoạn chẻ cói, khi chẻ cói thì phải dùng bàn để chẻ, công đoạn này cần tới 2 người mới thực hiện được, một người đưa cói vào và một người rút ra, sau khi cói được chẻ ra làm hai thì tiến hành đi phơi.

Chuẩn bị chẻ cói
Thời tiết đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong nghề trồng cói, khi nắng to cói sẽ trở nên rất đẹp và thời gian phơi rất ngắn, giá trị kinh tế cũng từ đó mà cao hơn. Những hôm nắng nhẹ thì cói không đẹp và thời gian phơi cũng dài hơn, cói mà bị mưa sẽ nhanh bị đen và không có giá trị nhiều về kinh tế. Chính vì thế mà trời càng nắng to thì người trồng cói càng phải ra đồng làm việc. Những chiếc áo ướt đẫm mồ hôi, cái bạt thì che không đủ mát..., vất vả là vậy nhưng nghĩ đến giá trị kinh tế mà cây cói mang lại trong những năm gần đây, người trồng cói càng thêm khí thế. Cây cói hiện nay đã đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển kinh tế quê tôi, nhờ nó mà từ một quê còn nghèo nay đã có những thay đổi rõ rệt. Nhờ vậy, các gia đình cũng cố gắng cho con cái học hành hơn nhiều năm trước, khi miếng ăn còn lo ngày một, ngày hai.

Bốc cói sau khi phơi
Với suy nghĩ của một người có cơ hội tách biệt với đồng ruộng, tôi luôn mong muốn người dân quê mình biết cách đầu tư cho con em họ ăn học thành người, dẫu biết cây cói có giá trị nhưng thực sự nghề trồng cói là nghề quá vất vả, cái nghề mà sức lực con người bị hao tổn rất lớn, thức khuy dậy sớm, giấc ngủ không tròn, mâm cơm đứt đoạn...Đối với người dân có được một nghề trong tay, ngoài trồng lúa quả thật hạnh phúc, quê tôi không bao giờ có khái niệm "nông nhàn"...
Đưa cói về nhà

Thứ Tư, 23 tháng 3, 2011

Chung Trâu-một mô hình kinh tế của làng xã Việt Nam

Tuổi thơ đã trôi qua nhưng hình ảnh về những ngày còn bé vẫn in đậm trong tôi. Hôm nay, với thời tiết lành lạnh tự xếp cho mình một góc nhỏ tôi ngồi nghĩ về tuổi thơ của mình và hình ảnh về con Trâu xuất hiện ngay trong đầu cùng với một nét văn hóa làng quê trước kia. Tuổi thơ gắn với chú Trâu thì gần như ai ở quê đều có và đó như là những dấu ấn đậm nét của mỗi người, tôi cũng vậy.

Con trâu là đầu cơ nghiệp

Quê tôi trước kia rất nghèo để có một con trâu riêng cho nhà mình không hề đơn giản chút nào, nghèo thì lấy đâu ra tiền mà mua trâu nhưng làm nông nghiệp mà không có trâu thì thật vất vả. Để làm được ruộng thì phải đợi những nhà có trâu cày bừa xong, có khi cấy xong mới dám mượn trâu để làm ruộng nhà mình hoặc có thể đi cấy cho nhà có trâu đổi lấy trâu để làm. Vất vả là vậy, biết vậy nhưng nghèo nên cũng không biết làm sao. Mơ ước mãi, cố gắng lắm nhà tôi cũng có được một nửa con trâu, nghe thì hơi lạ nhưng thời điểm ấy quê tôi hình thức chung trâu là phổ biến nhất, 2 nhà có thể là 3 và 4 gia đình chung một con trâu. Từ khi có trâu, dù rất còn bé nhưng tôi thật sự háo hức chỉ mong đến phiên nhà mình để đươc đi chăn trâu cùng bạn bè. Tôi thường xuyên bị ngắt quãng thời gian chăn trâu vì khi chung trâu thì mỗi nhà phải chăn theo phiên của mình có thể là 5 ngày, có thể là 10 ngày/một phiên. Trong những ngày bận rộn của nhà nông, trâu thuộc phiên của nhà nào thì nhà ấy có quyền sử dụng theo ý mình, có thể dùng trâu đổi công với người khác. Nhà chung trâu cùng, không có quyền quyết định khi trâu chưa đến phiên nhà mình, nhiều khi cũng bất tiện khi mà vào những ngày cao điểm nhất của cày bừa, hay cày bừa theo con nước thì lại chưa đến nhà mình được quyền sử dụng trâu. Để giải quyết tình trạng này nhiều gia đình đã bắt trâu phải cày bừa cả trưa, khi trâu được thả ra chuẩn bị một ít cỏ cho trâu ăn xong ngỉ ngơi một lát bắt quay lại cày bừa ngay. Hình thức chung trâu này cũng đã gây ra nhiều xích mích giữa các gia đình chung trâu với nhau, dẫn đến việc các gia đình bán trâu nhưng chỉ được bán phần của mình cho người khác khi các bên đã đồng ý.
Hình thức chung trâu rất phổ biến ở thập niên chín mươi của thế kỷ trước nhưng giờ ở quê tôi hình thức này không còn tồn tại, một phần do kinh tế phát triển hơn, một phần do cơ giới hóa nông nghiệp, trâu cũng ít được sử dụng trong cày bừa vì thế mà số lượng cũng giảm đi nhiều. Dẫu vậy, đây vẫn là nét văn hóa độc đáo, một mô hình kinh tế đặc trưng của làng quê Việt Nam trong thời gian dài mà ít người nhắc tới.
Hình ảnh nay