Hạnh phúc dài lâu

Hạnh phúc dài lâu
Thì thầm em hỏi nhỏ, Sao mặt hồ gợn sóng? Anh trả lời lấp lửng, Vì sóng cứ hôn bờ, Em nũng nịu ứ ừ, Khác cơ không phải thế, Anh nghiêng nhẹ mái đầu, Hôn môi em nồng cháy, Em ơi em có thấy, Sóng đang dậy trong tim
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

NGHÈ NGỌC NHỊ (Xã Quảng Vọng)

Quảng Vọng là xã nằm về phía Nam huyện Quảng Xương, gồm 3 làng: Ngọc Nhị, Văn Sơn và Phúc Tâm, phía Đông giáp xã Quảng Trường, phía Tây giáp xã Quảng Phúc, sông Yên bao quanh địa phận của xã từ phía Nam sang phía Tây và là ranh giới giữa 2 huyện Quảng Xương và Nông Cống. Thôn Ngọc Nhị ngày nay, thời Lý - Trần gọi là Ngọc Nhị khu thuộc trang Ngọc Lịch; đến Thời Lê - Nguyễn gọi là thôn Ngọc Nhị thuộc xã Ngọc Lịch, tổng Ngọc Đới, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, xã Ngọc Lịch sáp nhập với xã Ngọc Đới gọi là xã Quang Phục, huyện Quảng Xương. Từ sau năm 1954,xã Quang Phục chia thành 2 xã Quảng Phúc và Quảng Vọng. Ngày nay, làng Ngọc Nhị thuộc xã Quảng Vọng.
Xưa nay, dân làng Ngọc Nhị rất tôn sùng ngưỡng mộ và tôn thờ hai vị thành hoàng làng là: Hồng Thánh Đức uy Vũ dũng Đại vương Nguyễn Hồng, danh tướng thời Lý (nhân thần) và vị thần là Thiên thần. Hai vị thần được thờ chung trong một ngôi đền, nhân dân địa phương thường gọi là Nghè.
Về danh tướng Nguyễn Hồng: Trong bản “Phả tích Ngọc Nhị” do Đại học sĩ Nguyễn Bính biên soạn năm Hồng Đức năm đầu (1470) đời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), về sau Lễ bộ Thượng thư Nguyễn Hiền phụng sao năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737) cho biết: Nguyễn Hồng, người làng Ngọc Nhị, sinh vào giờ Tý, ngày mùng Hai tháng 6 năm Nhâm Tuất (?). Thân phụ của ông là Nguyễn Nghiêm “chỉ ham mê đèn sách”. Thân mẫu là Phạm Thị Toàn ‘làm nghề buôn bán tôm cá” để kiếm sống.
Thuở thiếu thời, ông có tướng mạo khác thường “mặt vuông, tai to, tay dài, thân cao 7 thước”. Lớn lên, ông “học hành thông minh, thiên tư dĩnh ngộ, thiên sử bách gia, không có gì là không thấu hiểu”. Năm 21 tuổi, ông tỏ ra là người “văn chương thông tường, võ nghệ thành tài, mưu trí thao lược”. Tiếng tăm về ông vang đến tận triều đình. Nhà vua liền cho vời ông vào triều yết kiến. Thấy ông “diện mạo phi thường, tài danh chấn thế”, Nhà vua bèn phong cho ông làm Đô uý, Thái bảo, rồi sai ông đi trấn thủ hai trấn Thanh Hoa và Nghệ An.
Bấy giờ ở trấn Thanh Hóa, Nghệ An nạn trộm cướp nổi lên nhiều nơi, đe dọa cuộc sống bình yên của dân thường. Nghe tiếng ông đến cai quản trong vùng, bọn trộm cướp phải qui phục, không dám hoành hành trắng trợn như trước. Vùng biên giới nước ta ở phía Nam, giặc Chiêm Thành thường xuyên xâm lấn đất đai, cướp đoạt tài sản của dân, Nhà vua trao cho ông “tiết việt”, phong làm Phụ quốc Thái uý, dẫn quân đi đánh dẹp. Khi đi qua làng Ngọc Nhị, ông bị lâm bệnh đột ngột rồi mất vào ngày 11 tháng 11 (không rõ năm). Nghe tin ông mất, Nhà vua rất thương tiếc, liền sai các quan trong triều về làng Ngọc Nhị làm lễ an táng và phong tặng là “Bậc công thần có công to lớn với nước với dân”, lại cấp 37 quan tiền cho dân làng dùng vào việc hương hỏa và ban sắc phong tặng ông là “Đương cảnh Thành hoàng Hồng thánh đức uy vũ dũng Đại vương”, cho phép dân làng thờ phụng thần theo điển phép nhà nước. Đến thời hậu Trần, vua Trần Quý Khoáng (1409 – 1413) có lần đi qua làng Ngọc Nhị đã vào Nghè mật cầu rất linh ứng và gia tặng cho thần là “Thượng Thượng đẳng Phúc thần”. Từ đó về sau, các triều vua Lê và Nguyễn đều ban sắc phong tặng.
Về sự tích vị Thiên thần, đến nay chưa tìm thấy tài liệu nào ghi chép cụ thể. Trong 7 tờ sắc phong thời Nguyễn phong cho thần là “Đương cảnh Thành hoàng bảo dân, hộ quốc, bậc trung đẳng thần”, với các mỹ tự “cảm ứng tối linh thánh tích hựu suy ân đức quảng phù vận thệ, nối trải trợ quốc cứu dân, thuần cảm trinh khiết, mẫu tích đoan chính, thông minh chính trực. Bản miếu nguyên tặng Đô minh, chính đại, huyền diệu thanh hư, gia tặng Linh phù dực bảo trung hưng Thiên thần,Trung đẳng Thần”.
Theo “Phả tích Ngọc Nhị”, nghè Ngọc Nhị “ Dựng ngồi phương Quí, hướng Đinh”, tức hướng Nam, trên khu đất cao ráo, thoáng đãng ở rìa làng Ngọc Nhị. Ngôi mộ của Ngài mặt nhìn hướng Đông, cách phía tây Nghinh môn khoảng 70 m, trong quần thể của khu di tích hiện nay.
Về quy mô kiến trúc của Nghè trước đây: Gồm nhà tiền đường và chính tẩm bố cục theo hình chữ “Đinh”. Phía trước tiền đường có bái đường (sân nghè), hai dãy nhà tả vu - hữu vu, bình phong và nghinh môn hai tầng tám mái. Chung quanh nghè có tường bao che. Nhà tiền đường 5 gian, 2 chái, kết cấu vì kèo theo kiểu “chồng rường - bẩy kẻ”. Đề tài trang trí trên các thành phần kiến trúc là: Long- Ly- Quy- Phượng, hoa lá cách điệu. Đầu phía Tây và phía Đông có chạm hổ phù. Trong nhà tiền đường bài trí bàn thờ Hội đồng bằng đá, tiếp đến là bàn thờ bằng gỗ cao hơn bàn đá, có đôi hạc đứng trên lưng rùa đứng hai bên. Hai bên bài trí bộ bát bửu; phía trên có treo bức Đại tự ghi 3 chữ Hán: “Đức Kỳ Thịnh”. Ở gian chái phía Tây để rương kiệu, trong rương kiệu để 2 bộ quân cờ người. Tiếp gian chái để dường cầu: dài 4m, rộng 2m. có 3 tầng để phân tầng vai vế để ngồi. Gian chái phía Đông để nhạc lễ, gian kề đó là nơi chia phần. Nhà chính tẩm có 3 gian, là nơi để h¬ương án, bàn thờ, long cung. Trong long cung có long ngai, Thánh vị, đôi hài quan võ, mũ, áo và long đao. Ở nhà chính tẩm có hai chiếc đẳng, một chiếc chóe đựng nước chuyên dùng để lấy nước cúng tế. Tr¬ước Nghinh môn cách về phía Nam 3 m có bức bình phong, mặt phía Nam có 2 con Hổ chầu, phía trong có đôi Rồng.
Hiện nay, kiến trúc Nghinh môn hai tầng tám mái, các đầu đao uốn cong, bia ký, vẫn được bảo tồn nguyên trạng. Cùng với kiến trúc Nghinh môn, trên nền bái đường (Sân) con 2 tấm bia đá. Tấm bia thứ nhất (cao 1,35 m, rộng 0,64m, dày 0,05m) ghi đức nghiệp của Thần, bia đựng trên bệ đá hình chữ nhật, nhiều chữ, hoa văn trang trí quanh rìềm bia đã bị mờ. Bia thứ hai (cao 1,3m, rộng 0,68m, dày 0,10m) ghi tên những ng¬ười cung tiến trong việc xây dựng Nghè. Trán bia trang trí “ Mặt hổ phù”, riềm bia trang trí hoa cúc dây cách điệu. Bên cạnh đó còn một số chân tảng đá hình bầu đèn, bát h¬ương đá, cột đá, sạp hương án bằng đá (rộng 1,35m - dài 1,72m - dày 0,12m), các thềm rồng bằng đá.
Trong số đồ thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng như Long ngai, Bài vị, Kiệu Long đình… đáng chú ý nhất là chiếc Hương án. Về kích thước, hương án dài 2m, cao 2m, rộng 0,85m, bố cục thành 3 tầng, mỗi tầng đ-ược chia thành các ô nhỏ, trong mỗi ô đều chạm nổi hình tứ quí: Long - Ly - Qui - Phượng và hoa lá cách điệu, nghệ thuật chạm khắc tinh xảo, đường nét phóng khoáng, mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Có thể nói, Hương án nghè Ngọc Nhị là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc hoàn mỹ còn được bảo tồn nguyên vẹn.
Trải qua những thăng trầm của lịch sử, đặc biệt do yêu cầu mở mang tuyến giao thông liên xã theo qui hoạch phát triển nông thôn ở những năm 70 của thế kỷ này, qui mô của Nghè bị thu hẹp lại. Nhà chính tẩm (nơi đặt Long cung, Long ngai, bài vị của hai vị thần) nằm đúng vị trí con đường mới buộc phải tháo dỡ. Vì thế, toàn bộ đồ thờ như long ngai, bài vị, hương án… phải dồn chất vào Nghinh môn. Từ đó dân làng Ngọc Nhị lấy Nghinh môn của Nghè làm nơi thờ tự, tế lễ. Một số đồ thờ dễ bị hư hỏng phải gửi vào các nhà thờ họ trong làng để bảo quản, đến kỳ Đại lễ mới bài trí ở Nghinh môn để tế thần.
Tuy nghè Ngọc Nhị không còn nguyên vẹn như xưa, nhưng những gì còn lại là bằng cứ lịch sử hùng hồn chứng minh truyền thống lịch sử, văn hóa trí thông minh và tài sáng tạo của người dân Ngọc Nhị trong quá trình dựng nước và giữ nước. Đó là những di sản văn hóa rất đáng được bảo tồn để phát huy tác dụng như Luật Di sản văn hóa đã ban hành.

Nghè Ngọc Nhị đã được xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 54/QĐ-VHTT ngày 22 tháng 02 năm 2000 của Sở Văn hóa - Thông Tin tỉnh Thanh Hóa (nay là Sở Văn hóa,Thể Thao và Du lịch). Đến năm 2004, nghè Ngọc Nhị đã được tu sửa, tôn tạo bằng nguồn vốn của Nhà nước và địa phương với tổng kinh phí gần 150 triệu đồng. Hiện tại đã phục hồi được nhà tiền đường, nhà chính tẩm để có nơi đặt đồ thờ và có vị trí cho nhân dân thắp hương, tổ chức lễ hội.
Hàng năm, cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương, và con em xã Quảng Vọng đang học tập, công tác, sinh sống ở mọi miền Tổ quốc vẫn tiếp tục đầu tư, hỗ trợ kinh phí để trùng tu tôn tạo khu di tích. Chính vì vậy, quy mô của Nghè được mở rộng với diện tích 2104m2. Năm 2008, xã Quảng Vọng đã đầu tư 13 triệu đồng xây dựng ngôi mộ của Tướng quân Nguyễn Hồng (xây bao xung quanh ngôi mộ), diện tích 12m2. Hiện tại đang được Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Thanh Hóa quan tâm giúp đỡ đầu tư gần 2 tỷ đồng trùng tu tôn tạo khu di tích nghè Ngọc Nhị. Hàng năm, địa phương tổ chức lễ hội với nhiều hoạt động văn hóa truyền thống nhằm phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa trong sự nghiệp xây dựng xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh như Nghị quyết của Đảng đã đề ra.

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

Chúa Trịnh


Phủ Trịnh tại xã Vĩnh Hùng-Vĩnh Lộc-Thanh Hóa
Nổi lên nắm quyền lực
Các vua nhà Lê tiếp sau vua Lê Thánh Tông toàn là những người yếu ớt và vào năm 1527 quyền thần Mạc Đăng Dung đã lật đổ nhà Lê. Ông thay thế vị vua nhà Lê là Lê Cung Hoàng và bắt đầu một triều đại mới. Vị vua mới của nhà Mạc bị coi là loạn thần và từ Thanh Hóa, Nguyễn Kim đã nổi dậy chống lại nhà Mạc, tôn lập hậu duệ nhà Lê là Lê Duy Ninh làm vua, tức là Lê Trang Tông (còn gọi nhà Lê Trung Hưng). Trong vòng 5 năm, tất cả các vùng phía nam sông Hồng nằm dưới quyền kiểm soát của nhà Lê Trung Hưng nhưng họ không thể chiếm Thăng Long. Trong thời gian này, nhà Lê cũng phát triển thế lực về phía Nam, chiếm quyền kiểm soát vùng cực nam lãnh thổ nơi từng là đất đai của Chăm pa.
Nghe tin Nguyễn Kim nổi dậy dựng lại nhà Lê, Trịnh Kiểm bèn đến xin gia nhập. Nhờ tài năng, ông được Nguyễn Kim tin cậy và gả con gái là Ngọc Bảo cho. Nǎm 1539 ông được phong làm Đại tướng quân, tước Dực Quận công. Năm 1545, Nguyễn Kim chết, Trịnh Kiểm lên thay cầm quyền, được phong làm thái sư nắm toàn thể quân đội.
"Phù Lê diệt Mạc"
Trịnh Kiểm bèn sai người đi tìm được người trong tôn thất nhà Lê là Lê Duy Bang, cháu 5 đời của Lê Trừ (anh Lê Lợi), lập làm vua, tức là Lê Anh Tông. Từ đó họ Trịnh nối đời cầm quyền nhưng danh nghĩa vẫn tôn phò, làm bề tôi cho nhà Lê, hai họ sống chung trong cơ chế lưỡng đầu. Bởi vậy người đời truyền lại câu: "Trịnh tồn Lê tại, Trịnh bại Lê vong".
Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, chuyển giao binh quyền cho con trưởng Trịnh Cối (con phu nhân họ Lại ). Nhưng phần lớn tướng tài đi theo Nguyễn Kim phò tá Trịnh Tùng (là con thứ - cháu ngoại của Nguyễn Kim). Hai bên xảy ra giao tranh để giành quyền chỉ huy quân đội của Nam triều. Trong khi Trịnh Cối đang giao tranh với quân Trịnh Tùng. Nhân cơ hội đó Mạc Kính Điển tướng của nhà Mạc kéo quân vào nhằm tiêu diệt lực lượng Nam triều. Trịnh Cối không địch nổi quân Mạc nên đã đầu hàng nhà Mạc, được nhà Mạc thu nhận và phong chức tước.
Khôi phục Thăng Long
Từ khi Trịnh Kiểm nắm quyền, họ Trịnh cai quản vùng phía nam của Đại Việt (trên danh nghĩa vẫn là chiến đấu dưới quyền vua Lê) và chiến đấu với nhà Mạc ở phía bắc. Bấy giờ nhà Lê chiếm lại được Thanh Hóa và Nghệ An. Nhờ có khẩu hiệu "Phù Lê diệt Mạc", thanh thế họ Trịnh ngày một lớn. Ở vùng Tây bắc, anh em Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên cát cứ tại Tuyên Quang sai người đến xin quy phục. Sau đó năm 1550, thái tể nhà Mạc là Lê Bá Ly là cựu thần nhà Lê sơ cùng thông gia là Nguyễn Thiến mang gia quyến về hàng.
Trong suốt những năm 1545-1580 là giai đoạn hai bên giằng co. Được tăng sức mạnh, họ Trịnh liên tiếp tấn công ra bắc đánh Sơn Nam, Ninh Bình, Sơn Tây, Thăng Long. Nhà Mạc lúc đó dưới sự chèo lái của Khiêm vương Mạc Kính Điển đã đứng vững. Mạc Kính Điển nhiều lần phải mang vua Mạc qua sông tránh sang Kim Thành (Hải Dương) nhưng quân Lê-Trịnh vẫn không vào được Thăng Long. Ngược lại, sau những đợt tấn công ra bắc, quân Trịnh cũng phải đối phó với những đợt tiến công vào Thanh Hóa - Nghệ An của Mạc Kính Điển. Hai bên khi được khi thua. Cuộc chiến giằng co nổi lên tên tuổi các tướng Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu bên Lê-Trịnh, Nguyễn Quyện bên Mạc.
Sau khi trấn thủ Thuận Hoá (năm 1558), năm 1570, Nguyễn Hoàng lại xin trấn thủ Quảng Nam. Chúa Trịnh mải lo chiến trường phía bắc nên chấp thuận. Năm 1572, Hoàng dùng kế giết được tướng Mạc là Mạc Lập Bạo vào đánh. Nhà Mạc mất hẳn phía nam và chỉ còn kiểm soát Bắc Bộ.
Sau khi Mạc Kính Điển chết (1580), nhà Mạc bắt đầu suy yếu. Vua Mạc là Mậu Hợp ít lo chính sự, phụ chính Mạc Đôn Nhượng không đủ năng lực. Quân Lê-Trịnh bắt đầu chiếm ưu thế. Năm 1591, Trịnh Tùng đem quân bắc tiến áp sát thành Thăng Long. Đầu năm 1592, Mạc Mậu Hợp chạy sang Gia Lâm, thống suất thủy quân để làm thanh thế trên sông Nhị Hà cho các tướng giữ thành Thăng Long. Trịnh Tùng thúc quân tổng tiến công. Các tướng Mạc Ngọc Liễn, Bùi Văn Khuê, Trần Bách Niên tan vỡ bỏ chạy. Phục binh của Nguyễn Quyện ở cầu Dền không kịp nổi dậy đã bị giết. Nguyễn Quyện bị bắt rồi bị giết, hai con tử trận. Quân Mạc chết rất nhiều.
Trịnh Tùng rút quân chủ lực về. Mạc Mậu Hợp thu tàn quân án ngữ sông Nhị Hà, lại ham sắc đẹp của vợ tướng Bùi Văn Khuê là Nguyễn thị Niên (xem thêm bài về nhà Mạc) nên muốn giết Khuê. Tháng 8 năm 1592, Khuê biết chuyện bèn đem quân hàng Lê, hợp binh với Trịnh Tùng đại phá quân Mạc.
Tháng 11 năm 1592, Trịnh Tùng lại tiến đánh Thăng Long. Mậu Hợp thua chạy về Kim Thành (Hải Dương). Thấy thế nguy cấp, Mậu Hợp lập con là Toàn lên ngôi, tự mình làm tướng thống suất quân đội. Sau các cuộc chiến ác liệt tại khu vực các phủ Nam Sách, Hạ Hồng, Kinh Môn trong tháng 11 và 12 thì quân Mạc thua to. Mạc Mậu Hợp phải bỏ trốn đến huyện Phượng Nhãn, bị bắt sống sau đó ít ngày và bị hành hình.
Sau vài cuộc chiến khác chống lại các thế lực tàn dư nhà Mạc, Trịnh Tùng rước vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long năm 1593.
Dẹp tàn dư họ Mạc
Dù Mạc Mậu Hợp và sau đó là Mạc Toàn bị bắt và bị giết thì thế lực của nhà Mạc chưa bị tiêu diệt hết. Các vùng như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng vẫn thuộc quyền quản lý của nhiều người như Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính Cung cho tới năm 1623. Nhà Minh, vì muốn duy trì thế Nam Bắc triều ở Việt Nam có lợi cho họ nên can thiệp để họ Mạc được cát cứ ở Cao Bằng. Vì vậy cháu Mạc Kính Điển là Kính Khoan và con Khoan là Kính Vũ vẫn cát cứ ở Cao Bằng, dù về cơ bản, họ Trịnh đã làm chủ Bắc Bộ và Bắc Trung bộ.
Khi nhà Minh mất (1644), các vua Nam Minh - tàn dư nhà Minh - vẫn ủng hộ họ Mạc. Họ Mạc nối nhau trấn giữ ở đây trong nhiều năm. Mãi đến khi nhà Minh mất hẳn (1662) về tay nhà Thanh, họ Trịnh mới ra tay dẹp họ Mạc. Tới năm 1677, chúa Trịnh Tạc sai tướng Đinh Văn Tả đi đánh, việc trấn giữ Cao Bằng của họ Mạc mới chấm dứt.
Trịnh - Nguyễn phân tranh
Sau khi Nguyễn Hoàng xuống phía Nam đã xây dựng căn cứ và phát triển thành một thế lực độc lập, hình thành chính quyền của họ Nguyễn. Tuy các chúa Nguyễn vẫn hợp tác với chúa Trịnh để chống nhà Mạc và vẫn đứng danh nghĩa là thần tử nhà Lê, nhưng thực tế các chúa Nguyễn vẫn cai trị các tỉnh biên giới phía Nam Đại Việt với một chính quyền độc lập. Hơn thế nữa, họ đã có công mở rộng lãnh thổ Đại Việt lên gấp đôi về phía Nam. Sau khi đánh bại nhà Mạc, sự độc lập của các chúa Nguyễn ngày càng trở nên khó chịu đối với các chúa Trịnh.
Chúa Nguyễn xây dựng hai giới tuyến rất vững chắc kéo dài vài dặm từ biển đến tận các ngọn đồi. Họ đã bảo vệ hai giới tuyến này chống lại nhiều cuộc tấn công của các chúa Trịnh. Trong thời gian từ 1627 đến tận 1672, hai bên giao chiến cả thảy 7 lần. Năm 1655, quân Nguyễn thắng thế vượt sông Gianh đánh Nghệ An, chiếm 7 huyện và mang theo nhiều dân cư ở đây vào khai khẩn trong nam. Năm sau quân Trịnh phản công chiếm lại.
Dẹp yên khởi nghĩa nông dân
 Các chúa Trịnh từ Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng, Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn, Trịnh Cương đều là những chúa giỏi cai trị. Sau khi chiến tranh Trịnh - Nguyễn và Trịnh - Mạc chấm dứt, Bắc Hà yên ổn thịnh trị.
Các chúa Trịnh cai trị khá tốt, luôn giữ danh nghĩa cho vua Lê. Tuy nhiên họ là người lựa chọn ra vua và họ có quyền cha truyền con nối. Không giống như các chúa Nguyễn, những người thường gây chiến với Đế chế Khmer và Xiêm La, các chúa Trịnh giữ quan hệ hòa bình hữu hảo với các nước láng giềng.
Năm 1729, Trịnh Cương chết, con là Trịnh Giang lên thay. Trịnh Giang phế bỏ vua Lê là Duy Phương (1729-1732), lập Lê Thuần Tông (anh Duy Phương) lấy lý do là tư thông với cung nữ của cha. Trong thời gian điều hành đất nước Trịnh Giang có nhiều việc làm gây mất lòng dân. Từ đó giặc cướp nổi lên đánh phá nhiều nơi.
Năm 1737, nhà sư Nguyễn Dương Hưng nổi dậy khởi nghĩa. Năm 1739, hậu duệ nhà Mạc (đã bị đổi họ) là Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển cùng Vũ Trác Oánh nổi dậy ở Hải Dương. Tông thất nhà Lê là Lê Duy Mật cũng định làm binh biến ở Thăng Long để lật đổ họ Trịnh nhưng không thành nên rút ra ngoài. Đến năm 1740 đồng loạt các cuộc nổi đậy lớn của quận He Nguyễn Hữu Cầu, quận Hẻo Nguyễn Danh Phương và Hoàng Công Chất bùng phát. Chính sự Bắc Hà hết sức rối ren.
Trịnh Giang không khắc phục được khó khăn, lại mắc bệnh nằm bẹp dưới nhà hầm không điều hành được công việc. Trước tình hình đó, gia tộc họ Trịnh phế bỏ Trịnh Giang, lập em là Trịnh Doanh lên ngôi năm 1740. Là người có tài năng, Trịnh Doanh điều chỉnh chính sách, ra tay đánh dẹp, dần dần củng cố lại tình hình Bắc bộ. Trong cuộc chinh phạt nổi lên tên tuổi các danh tướng Hoàng Ngũ Phúc, Bùi Thế Đạt, Phạm Đình Trọng. Đến khi Trịnh Doanh mất (1767), cơ bản các cuộc nổi dậy đều bị dẹp tan, chỉ còn Hoàng Công Chất và Lê Duy Mật. Con Doanh là Trịnh Sâm lên ngôi nhanh chóng dẹp nốt các cuộc khởi nghĩa này năm 1769. 
Trịnh bại Lê vong
Hòa bình lâu dài với Đàng Trong kết thúc khi cuộc nổi dậy Tây Sơn ở phía nam chống lại chúa Nguyễn bùng nổ. Cuộc nổi dậy Tây Sơn được chúa Trịnh Sâm coi là một cơ hội để kết liễu chúa Nguyễn ở miền nam. Năm 1774, Trịnh Sâm cử lão tướng quận Việp Hoàng Ngũ Phúc mang quân tấn công và chiếm Phú Xuân. Quân Trịnh tiếp tục tiến về phía nam trong khi quân Tây Sơn chiếm các thành khác ở trong nam. Các chúa Nguyễn giữ Gia Định tới tận khi nó bị chiếm vào năm 1777 và dòng họ nhà Nguyễn gần như bị tiêu diệt. Lần đầu tiên nước Việt thống nhất.
Họ Trịnh từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Sâm là truyền được 8 đời chúa. Năm 1782, Trịnh Sâm chết. Ngay từ khi Trịnh Sâm còn sống đã diễn ra cuộc tranh giành ngôi thế tử giữa con trưởng Trịnh Tông và con thứ Trịnh Cán. Trịnh Cán còn nhỏ nên thực chất đó là phe Tuyên phi Đặng Thị Huệ. Tuyên phi lôi kéo quận Huy là Hoàng Đình Bảo (cháu Hoàng Ngũ Phúc). Vì Tuyên phi được sủng ái nên Trịnh Cán được lập làm thế tử. Khi Trịnh Sâm chết, Trịnh Cán lên thay, quận Huy phụ chính. Quân kiêu binh giúp Trịnh Tông làm binh biến giết chết quận Huy, phế bỏ Trịnh Cán và đưa Trịnh Tông lên ngôi chúa.
Tuy nhiên từ khi Trịnh Tông lên ngôi, chính sự cũng không sáng sủa. Quân kiêu binh cậy công làm càn, cướp của, phá phách kinh đô, kể cả nhà các quan lại. Trịnh Tông không dẹp nổi.
Ngoài biên cương, sau khi quận Việp mất, thành Phú Xuân giao cho Bùi Thế Đạt. Sau Đạt cũng rút về bắc giao lại cho Phạm Ngô Cầu và Hoàng Đình Thể. Tướng sĩ kiêu ngạo, lơ là mất cảnh giác phòng bị.
Vua chúa cùng chạy
Tây Sơn không muốn trở thành kẻ bầy tôi của các chúa Trịnh và sau một vài năm củng cố quyền lực ở phía nam, tướng Tây Sơn là Nguyễn Huệ tiến ra phía bắc Đại Việt vào giữa năm 1786 với một đội quân đông đảo. Quân Trịnh bị quân Tây Sơn đánh bại và chúa Trịnh Khải phải chạy về phía tây bắc và sau đó bị bắt.  Trên đường áp giải về Thăng long,  Trịnh Khải dùng dao cắt cổ tuẫn tiết.
Tây Sơn rút về, các bầy tôi cũ lại lập con Trịnh Giang là Trịnh Bồng lên ngôi. Vua Lê mới là Chiêu Thống muốn củng cố quyền lực của nhà Lê nên triệu Nguyễn Hữu Chỉnh đang trấn thủ Nghệ An ra giúp. Chỉnh đánh tan quân Trịnh, Trịnh Bồng bỏ đi mất tích.
Tuy nhiên sau đó Nguyễn Hữu Chỉnh lại lộng quyền. Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhậm ra giết Chỉnh rồi đến lượt Nhậm lại mưu cát cứ ở Bắc Hà. Vua Càn Long điều một đội quân lớn tới Việt Nam nhằm tái lập vua Lê. Quân Thanh chiếm được Thăng Long năm 1788 nhưng sau đó bị Nguyễn Huệ giáng cho một đòn nặng nề đầu năm 1789. Quân Thanh thua to, rút chạy. Nguyễn Huệ -lúc ấy đã là hoàng đế Quang Trung - sau đó được vua Thanh công nhận và chính thức thay họ Lê cai trị nước Đại Việt. Chiêu Thống lưu vong và chết ở Trung Quốc.
Các chúa Trịnh cầm quyền 249 năm, được 11 đời chúa (kể từ chúa Trịnh Từng đến chúa Trịnh Bồng).
Đánh giá
Các chúa Trịnh đã tránh một số vấn đề quản lý triều đình bằng cách lựa chọn người con giỏi nhất cai trị đất nước. Khi lập thế tử, các chúa Trịnh không nhất thiết chọn con cả, mà chọn người con nào giỏi nhất. Giống như các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn sau này, các chúa Trịnh cũng gặp phải vấn đề với các cuộc nổi dậy của nông dân và việc không có ruộng đất đã trở thành một nguồn gốc gây nên các vấn đề cho triều đình.
Các chúa Trịnh chú ý tới việc giữ vững các quan hệ tốt với Trung Quốc và giữ gìn xã hội Khổng giáo hơn các chúa Nguyễn.  Vào những năm sau này khi nhà Nguyễn nổi lên và cai trị toàn bộ Việt Nam, các chúa Trịnh đã bị đánh giá thấp, thậm chí lên án trong chính sử, điển hình là sách "Khâm định Việt sử Thông giám cương mục". Nếu nhìn nhận khách quan hơn, phần lớn các chúa Trịnh đều là những người tài. Như trên đã đề cập, chỉ trừ Trịnh Cán, các chúa từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Sâm đều là chúa giỏi, do đó đã hoàn thành việc đánh dẹp và cai trị phía Bắc Việt Nam, giữ cho xã hội Việt Nam ổn định trong gần 3 thế kỷ không bị nước ngoài xâm lăng.
Các chúa Trịnh Căn, Trịnh Cương, Trịnh Giang, Trịnh Doanh  và Trịnh Sâm ngoài võ công còn được đánh giá là những người hay chữ. 5 chúa từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Căn đều rất thọ (từ 68 đến 81 tuổi). Các thành tựu của nhà Lê trung hưng thực chất là thành tựu do các chúa Trịnh.
Hiển nhiên với ngôi vị "phi đế phi bá", vừa thực sự là người cầm trịch trong bộ máy chính quyền, vừa phải cảnh giác với sự nổi dậy đòi quyền của họ Lê, các chúa Trịnh phải luôn có thái độ cứng rắn, cương quyết, không thể ôn hòa như các vua Hiến Tông, Túc Tông nhà Lê sơ trước đây, nhằm bảo vệ địa vị của mình. Do đó việc phế lập tại triều đình trong cuộc đấu tranh đó là khó tránh khỏi. Chỉ có các vua Lê bằng lòng sống chung với họ Trịnh mới có thể tồn tại.
Trong 3 chúa cuối cùng của họ Trịnh, trừ Trịnh Cán quá nhỏ không đáng kể, hai chúa Trịnh Tông và Trịnh Bồng dù không đủ năng lực nhưng cũng là những người biết cách rút lui. Trịnh Tông tự vẫn không để mình lọt vào tay Tây Sơn, Trịnh Bồng bỏ đi mai danh ẩn tích khi biết dòng họ mình không còn đủ uy tín để giữ ngôi cai trị. Không ai trong họ Trịnh đi cầu viện nước ngoài như những người đứng đầu các tập đoàn song song tồn tại khi đó là Nguyễn Phúc Thuần (định cầu viện nhà Thanh), Nguyễn Ánh (cầu Xiêm, Pháp, Bồ), Lê Duy Kỳ (cầu viện Thanh).
 Lê và Trịnh gần như cùng mất một thời điểm nhưng cách rời bỏ vũ đài chính trị của họ Trịnh không giống với họ Lê.
Danh sách niên đại các chúa Trịnh
Danh sách  dưới đây gồm 12 vị chúa. Nhưng bắt đầu kể từ Trịnh Tùng mới được phong Vương.
1. Trịnh Kiểm (1503-1570): Người cai trị đầu tiên, nắm quyền trong khoảng 1545-1570, trải qua ba đời vua: Lê Trang Tông (1533-1548), Lê Trung Tông (1548-1556) và Lê Anh Tông (1556-1573). 
2. Trịnh Tùng (1550-1623): con thứ của Trịnh Kiểm, nắm quyền trong khoảng 1570-1623, trải qua bốn đời vua: Lê Anh Tông (1556-1573), Lê Thế Tông (1573-1599), Lê Kính Tông (1600-1619) và Lê Thần Tông (1619-1643).
3. Trịnh Tráng (1577-1657): Con cả Trịnh Tùng, nắm quyền trong khoảng 1623-1657, trải qua nhiều đời vua: Lê Chân Tông (1643-1649), Lê Thần Tông (lần hai: 1649-1662).
4. Trịnh Tạc (1606-1682): Con Trịnh Tráng, nắm quyền trong khoảng 1657-1682, trải qua các thời vua: Lê Thần Tông (lần hai: 1649-1662), Lê Huyền Tông (1663-1671), Lê Gia Tông (1672-1675) và Lê Hy Tông (1676-1704).
5. Trịnh Căn (1633-1709): Con Trịnh Tạc, nắm quyền trong khoảng 1682-1709, trải qua các thời vua: Lê Hy Tông (1676-1704), Lê Dụ Tông (1705-1729).
6. Trịnh Cương (1690-1729): Chắt Trịnh Căn (con Trịnh Bính, cháu nội Trịnh Vĩnh), nắm quyền trong khoảng 1709-1729, trải qua thời vua Lê Dụ Tông (1705-1729) và Hôn Đức Công (1729-1732).
7. Trịnh Giang (1709-1751): Con Trịnh Cương, nắm quyền trong khoảng 1729-1740, trải qua các thời vua Lê Thuần Tông (1732-1735) và Lê Ý Tông (1735-1740); bị phế truất năm 1740, mất năm 1751.
8. Trịnh Doanh (1720-1767): Em Trịnh Giang, nắm quyền trong khoảng 1740-1767, trải qua các thời vua Lê Ý Tông (1735-1740) và Lê Hiển Tông (1740-1786).
9. Trịnh Sâm (1739-1782): Con Trịnh Doanh, nắm quyền trong khoảng 1767-1782, trải qua thời vua Lê Hiển Tông (1740-1786).
10. Trịnh Cán (1777-1782): Con Trịnh Sâm, nắm quyền từ tháng 9 năm 1782 đến tháng 10 năm 1782 thời vua Lê Hiển Tông; bị phế làm Cung quốc công và mất sau loạn kiêu binh 1782.
11. Trịnh Khải hay gọi theo tên cũ là Trịnh Tông (1763-1786): Anh Trịnh Cán, nắm quyền từ tháng 10 năm 1782 đến 1786 thời vua Lê Hiển Tông.
12. Trịnh Bồng: Con Trịnh Giang, cầm quyền từ tháng 9 năm 1786 đến tháng 9 năm 1787 thời Lê Chiêu Thống. Trốn mất tích không biết kết cục ra sao.

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

Cao Xuân Dục và hệ tư tưởng Nho giáo Việt Nam

Cao Xuân Dục tự Tử Phát, hiệu Long Cương, sinh năm 1842, tại xã Thịnh Khánh, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An (nay là xã Diễn Thịnh – huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An). Năm 1976 ông đỗ cử nhân rồi bước vào con đường hoạn lộ. Khi làm quan ông rất quan tâm trứ tác. Năm 1898 ông được điều về Huế làm tổng tài Quốc sử quán, sau đó là thượng thư bộ Học. Đến năm 1913 ông xin về hưu với hàm Đông các đại học sĩ. Ông mất ngày 21 tháng 4 năm quý hợi (5-6-1923) tại quê nhà[1].

Cao Xuân Dục là người thể hiện tinh thần văn hóa khoa cử cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Như ta biết, từ năm 1075 nhà Lý mở khoa thi. Tuy nhiên với 215 năm cai trị, nhà Lý mới có bảy khoa thi. Sang thời Trần (1226-1400) Nho giáo có phần mạnh hơn. Trong 175 năm, nhà Trần tổ chức 19 kho thi tiến sĩ (đương thời gọi là Thái học sinh). Vào thời này, nhà Trần đã phân chia làm tam giáp. Sau thời Lê, cứ ba năm nhà nước tơ chức môptj kỳ thi hương rồi thi hội. Đến triều Mạc và Lê trung hưng, các kỳ thi đại khoa được tổ chức khád đều đặn. Sáu mươi năm cầm quyền, nhà Mạc tổ chức 22 khoa thi, chọn được gần 500 tiến sĩ.
 Tiếp theo nhà Mạc, các vua Lê, chúa Trịnh cũng đều tổ chức thi từ lúc còn ở Thanh Hóa và khi ra Thăng Long thì tổ chức đều đặn hơn. Tổng số kỳ thi hội của nhà Lê (bao gồm Lê sơ và Lê trung hưng ) từ năm 11426 đến khoa thi cuối cùng năm 1787 có 98 khoa với 1757 vị tiến sĩ.
Sang thời Nguyễn, từ Minh Mạng (1820-1840), các kỳ thi tiến sĩ lại được tiếp tục. Giáo dục và khoa cử thời này thực sự có nhiều thành tựu. Các thể thức khoa cử thời Nguyễn cũng như thời Lê. Thời Nguyễn tại Văn Miếu Huế cũng có bia tiến sĩ (nhưng không có bài văn bia). Bên cạnh các kỳ thi tiến sĩ, nhà nước còn tổ chức cá kỳ thi chế khoa, ân khoa. Trong học vị tiến sĩ nhà nguyễn không lấy trạng nguyên nhưng lại lấy phó bảng, sinh đồ đổi thành tú tài, hương cống đổi thành cử nhân. Vào thời Nguyễn, Trương Quốc Dụng, Nguyễn Trường Tộ có đề ra một số cải cách về giáo dục, phê phán lối học dựa vào Bắc sử, từ chương, nhưng tiếng nói của hai ông không được lưu ý đầy đủ. Sang thế kỷ XX trước sức ép của các trào lưu cách tân mới, kể cả thực dân Pháp, nhà Nguyễn có thay đổi ít nhiều song vẫn mang tính cưỡng bức, có sự “ai căng” giữa ta và tây, cổ và kim. Về khách quan, lối học cổ hủ, phù phiếm dần dần suy yếu đi. Một tầng lớp sĩ phu mới xuất hiện, nảy sinh. Đến năm 1919 khoa cử cũ bỏ, thi tiến sĩ chấm dứt. Chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán đặt dấu chấm hết vào chế độ khoa cử nho giáo.
 Cao Xuân Dục sống trong thời kỳ giáo dục và khoa cử Nho giáo thời Nguyễn. Ông sinh ra, lớn lên trên vùng Nghệ An, nơi học hành và thi cử phát triển vào bậc nhất của đất nước. Vùng đất học này đã tác động không ít tới Cao Xuân Dục. Qua học hành, thi cử đã tạo nên một tầng lớp sĩ phu đông đảo, lấy đó làm điều kiện lập thân. Có thể cho rằng với văn hóa khoa cử của nước Đại Nam thì nơi đây là đậm đà nhất, sâu sắc nhất. Trong gia đình Cao Xuân Dục, con trai ông là Cao Xuân Tiếu đậu phó bảng, con rể là Đặng Văn Thụy đậu hoàng giáp, các con, cháu nội là Cao Xuân Xang, Cao Xuân Thụ, Cao Xuân Tảo đều đậu cử nhân.
 Nguyễn Trung Quán người xã Yên Dũng, huyện Châu Lộc Nghệ An (nay thuộc huyện Nghi Lộc – Nghệ An) giữ chức Toản tu Quốc sử quán viết bài tựa cho tập Quốc triều đăng khoa lục: “khi mới đọc cuốn Hương lục, được biết ông dùng sức rất cần cù. Nay đọc Hội lục này, lại biết ông dụng tâm rất chu đáo. Các vị quân tử coi cuốn sách này cho là ông vì đạo Nho ta cũng được cho là có ý khuyên răn cũng có thể được. Hoặc lại cho là biểu dương thịnh ý trong văn chuộng hiền của triều đình cũng không có gì là không được”.
 Chế độ khoa cử lâu đã tạo ra một lớp sĩ phu phổ biến trong nông thôn đến các huyện lỵ, tỉnh lỵ và triều đình. Nội dung hoạt động của tầng lớp này thuộc lĩnh vực văn hóa – giáo dục – văn học khá sôi động. Đây chính là đội quân chủ lực bổ sung liên tục cho chính quyền phong kiến Lý đến Nguyễn. Đặc biệt trong các thời Lê – Nguyễn (XIX-đầu XX), tầng lớp sĩ phu đông đảo này ở nông thôn và một số thành thị lớn mạnh vững vàng nhờ các kỳ thi hương, thi hội (và thi đình). Đăng khoa thực sự là niềm hy vọng thường xuyên, cổ vũ tinh thần học tập tứ thư. Như vậy, chính hoạt động khoa cử (hương thí và hội thí) với văn hóa, giáo dục, văn học có sức cuốn hút mạnh mẽ đến các tầng lớp xã hội, các lứa tuổi khác nhau, từ anh em đến cha con, họ hàng đều tham gia không hề mệt mỏi. Ai đó, nhờ trúng cách đã được là cử nhân, là tiến sĩ sẽ có sự thay đổi thân phận. Bởi vậy các sĩ tử ra sức rèn luyện kỹ năng văn chương, mở rộng kiến thức để đáp ứng yêu cầu khoa cử và cũng từ đó sáng tạo ra những giá trị tinh thần.
 Song có lẽ không nên cho rằng mục đích duy nhất của khoa cử là ra làm quan để “vinh thân phì gia” mà họ còn mong đạt được danh vọng. Cái danh (không nhất thiết là giàu sang) chính có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Trong lời tựa tập sách này, ông Nguyễn Trung Quán đã viết: “Danh và khí là vật quý nhất trong thiên hạ. Thiên hạ đã lấy làm của quý, đó là điều đã rõ. Bởi vậy không thể không soạn Hương khoa lục mà đến Hội khoa lục cũng không thể bỏ qua được”. Danh thực sự là điều quan trọng đối với tầng lớp xã hội ở nông thôn. Không biết tự bao giờ tục ngữ Việt Nam đã có câu: “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”.
 Coi trọng khoa cử là coi trọng danh tiếng. Ở xứ Nghệ xưa có trường hợp cha con cùng đi thi tiến sĩ như Ngô Trí Tri và Ngô Trí Hòa (khoa thi 1592 – Quang Hưng thứ 15). Trong dân gian tương truyền Phan Dương Hạo (tức Phan Thúc Trực) đi thi hương đến mười khoa chỉ đậu đến tú tài, sau được đặt cách vào thi hội (1847), đỗ thám hoa, gọi là Thám Mười. Khoa thi hương năm 1900, tỉnh Nghệ An có một thí sinh đã 82 tuổi là Đoàn Tử Quang người xã Phụng Quang, huyện Hương Sơn (nay thuộc Hà Tĩnh). Có trường hợp thày và trò cùng đi thi như thầy Phạm Nhật Tâm và trò là Trần Văn Hệ, cùng trúng tam giáp khoa Tân Hợi (1851). Cho nên “văn hóa khoa cử” Cao Xuân Dục nêu ra là “văn hóa gia đình”.
 Thực sự đã có một luồn văn hóa khoa cử từ sau thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX. Cao Xuân Dục đã dành phần lớn quyển đầu (Phần các hệ) để nói lên điều này. Đó là những nhân tính có “định lượng” về người trúng tam nguyên, song nguyên, những người mới đỗ tú tài mà trúng tiến sĩ, những gia đình, dòng họ, những làng thôn có nhiều người đỗ tiến sĩ kế tiếp hay đồng khoa…Văn hóa khoa cử thực sự là động lực thúc đẩy giáo dục, văn học phát triển. Hai hệ thống trường học đồng thời hoạt động. Bên cạnh hệ thống trường quốc lập, các nhà giáo lớn lại thu hút học trò, tạo ra một môn phái, một vùng văn hóa, văn học đặc sắc. Thám hoa Nguyễn Đức Đạt nổi danh cả nước không phải vì quan chức mà chính vì khoa bảng, vì sự nghiệp giáo dục. Chính Cao Xuân Dục là học trò của ông. Hình điêu khắc trên lăng đá của ông là cảnh vinh quy bái tổ. Rõ ràng văn hóa khoa cử tạo cho giáo dục phát triển, nâng cao vị trí của thày giáo.
Văn hóa khoa cử tạo nên đức hy sinh cho người phụ nữ. Họ chịu nghèo, lấy vinh dự của chồng con làm vinh dự cho mình, làm hạnh phúc của mình. Sách Đăng khoa lục ghi lại không ít hình ảnh những người mẹ, người vợ như vậy. Người Diễn Châu (Nghệ An) thường kể chuyện cụ nghè Nguyễn Xuân Ôn nhà rất nghèo, đi học không đủ giấy viết, không đủ sách học thường viết trên đất, trên đùi nên có khi quên mặt chữ, chữ lại xấu…nhưng vẫn không nản chí, vẫn theo đuổi khoa cử.
Nền văn hóa khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XVII-XVIII về sau ngày càng phát triển mạnh mẽ. Vào thế kỷ XVIII, một số tuyển tập các bài thi hội đã xuất hiện như Lịch khoa tứ lục (của Tăng Hợp), Thiên Nam lịch khoa hội phú tuyển (của Lý Trần Quán). Thế kỷ XIX có Hương thi văn tuyển.
 Quốc triều đăng khoa lục là bộ sử giáo dục thời Nguyễn từ 1822-1919, ngót một trăm năm. Nhà sử học tìm ở đây những “mục từ” nhân vật đại khoa. Nhà giáo dục học tìm ở đây sự phát triển của giáo dục nho học. Nhà triết học lại thấy ở đây những chuyển biến tư tưởng truyền thống sang thời cận đại. Nhà nghiên cứu văn hóa sẽ tìm ở đây một đặc sắc văn hóa khoa bảng – giáo dục. Mỗi ngành khoa học đều có những khía cạnh để khai thác. Đến như con, cháu của các vị đại khoa này cũng rõ hơn tiểu sử ông cha mình về hành trạnh, tài năng, ý chí và những đóng góp của ông cha mình.
Cao Xuân Dục thực sự là người trân trọng văn hóa truyền thống, quý trọng nhân tài đất nước. Qua từng nhân vật cụ thể dù trình bày chi tiết hay giản lược, song hầu như ông và các cộng sự là Cao Xuân Tiếu và Đặng Văn Thụy đều khách quan. Với các nhân vật chống pháp như Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã, Văn Đức Giai, Phan Đình Phùng, Nguyễn Quang Bích,  Nguyễn Thượng Hiền…Cao Xuân Dục cũng thể hiện rất trân trọng. Ông là đại thần của Nam Triều và cũng có những năm tháng theo theo đuổi việc quân trấn áp các lực lượng chống Pháp ở Bắc Kỳ trong hai thập kỷ của thế kỷ XIX. Thế nhưng khi viết tiểu sử của các vị đại khoa ông không đứng trên lập trường kẻ thống trị, không “chỉ trích” những hoạt động yêu nước của họ, không cho họ là người đối lập mà ngược lại, ông vẫn trân trọng họ, ca ngợi những mặt ưu điểm của họ. Với Vưn Đức Giai, ông ca ngợi mặt chí hiếu, Nguyễn Xuân Ôn nhà nghèo nhưng rất cần cù chịu học, thực sự thông minh. Khi viết về Phan ĐÌnh Phùng, Nguyễn Thượng Hiền, ông lại ca ngợi cả họ tộc.
Cao Xuân Dục thực sự có lòng yêu mến văn hiếu truyền thống. Hai bộ Hương khoa lục và Đăng Khoa lục đồ sộ, công phu và chính xác. Bộ Hương khoa lục với 5232 vị hương cử, bộ Đăng khoa với 887 vị đại khoa. Sự trân trọng các vị khoa bảng này đâu chỉ vì con người cụ thể mà chính là sự yêu mến văn hóa khoa cử lâu năm của dân tộc, yêu mến tầng lớp nho sĩ của đất nước.
 Có thể nói, sự chuyển biến của bản thân Nho học của Việt Nam rất chậm chạp, trì trệ. Vào thế kỷ XVII – XVIII ở Trung Quốc, Nhật Bản phái Tâm học đã xuất hiện ngày càng mạnh mẽ. Sự thực thì Tâm học của Trung Quốc với sự khởi đầu là sự phê phán của Chu Hy của Vương Thủ Nhân (1472 – 1528), chống lại lý thuyết “Cách vật trí tri”, “tức vật cùng lý”. Vương Thủ Nhân cho rằng lý là ngay ở trong lòng mình, nếu thoát ly khỏi tâm (lòng mình) thì làm sao có lý được, người ta nên phải tĩnh cái tâm của chính mình, không cần thiết phải tìm cái ngoài tâm. Chính ông nêu lên cái gọi là “tâm học” này. Thuyết Tâm học của Vương là sự vận động của tư tưởng có tính thời đại, xuất hiện khi Lý học của Trình Chu đã xơ cứng. Tâm học truyền sang Nhật được nhiều nho sĩ hưởng ứng và thành một trào lưu rộng rãi vào các thế kỷ sau.
Các nhà bác học Trung Quốc như Phương Dĩ Trí (1611 – 1671), Hoàng Tông Hy (1610 – 1695), Vương Phu Chi (1619 – 1777) đều lên tiếng phản đối Lý học Trình Chu – trào lưu tư tưởng phản lý học Tống Nho sau đó càng mở rộng, kéo dài đến thế kỷ XIX, tạo ra những nhà tư tưởng tư sản cấp tiến như Khương Hữu Vi, Lương Khải Siêu…Hiện tượng phản lý học hay hay rộng ra là sự phản truyền thống lên đến đỉnh cao là Ngũ tứ vận động (1915) với Lý Đại Chiêu, Trần Độc Tú, Lỗ Tấn…
Ở Việt Nam, Lý học Tống Nho chi phối từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX. Thế kỷ XIX Nho học, Nho giáo lại được nhà nước chú trọng hơn, áp đặt mạnh hơn. Vào giữa thế kỷ này, ở Trung Quốc đã có hình thái “Trung thể Tây dụng” và ngày càng mở rộng. Riêng ở Việt Nam, những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện đều bị từ chối. Điều này thể hiện đến hết thế kỷ XIX, áp lực nho giáo Việt Nam vẫn mạnh, mạnh hơn ở Trung Quốc. Ở Trung Quốc, những người đọc “phản truyền thống” đã dần dần làm suy yếu Nho giáo. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ XIX, Nho giáo Việt Nam vẫn không có hiện tượng phản truyền thống.
Tất nhiên chế độ khoa cử cũng có nhiều nhược điểm lớn nhất là tạo ra một tập đoàn quan lại, một tầng lớp sĩ thoát ly đời thường. “Kẻ sĩ đọc sách” theo đuổi “cử nghiệp tốn công sức”, bỏ nhiều năm tháng đén sách, ít đóng góp cho đời. Chế độ khoa cử cũng làm cho trí thức phát triển theo một chiều, coi thường khoa học kỹ thuật, coi thương lao động chân tay.
Kẻ sĩ ở Việt Nam cũng khác với kẻ sĩ ở Trung Quốc. Trung Quốc sớm đã có nhiều đô thị phát triển, đặc biệt ở vùng nam Trường Ghiang. Những nghiên cứu của các học giả Trung Quốc cho biết “Từ đời Tống về sau, kẻ sĩ xuất thân phần lớn từ gia đình thương nhân. Giới sĩ phu và thương nhân phân biệt không rõ rệt. Mặt khác, do thương nghiệp Trung Quốc ngày càng phát triển, ngày càng có tỉ trọng lớn trong đời sống xã hội nên những người tài trí dần dần bị thương nhân lôi kéo”(2)2. “Nho gia và thương nhân thời Minh – Thanh đều đã có sự đánh giá lại giá trị xã hội của tầng lớp thương nhân. Trên thực tế, phần đánh giá này là do thực tế xã hội thay đổi buộc phải như vậy. “Thời Minh – Thanh, thương nhân gia nhập tầng lớp sĩ, thi cử và làm quan, có thế lực”.
Ở Việt Nam, xuất thân của kẻ sĩ không như vậy. Kẻ sĩ ở Việt Nam là từ nông thôn, nhiều người nhà nghèo, ở các làng quê. Những làng có nhiều kẻ sĩ đỗ đạt, làm quan như Quỳnh Đôi, Hành Thiện, Cổ Am… đều là những làng nông nghiệp. Những làng này không nghèo khổ so với những làng nông nghiệp khác nhưng cũng không giàu có hơn, không phải là đô thị buôn bán. Đọc tiểu sử các bậc tiến sĩ trong sách này, chúng ta thấy các vị đều xuất thân từ nông dân. Làng Quỳnh Đôi, nơi nhiều cử nhân, tiến sĩ vào bậc nhất cả nước vào bậc nhất cả nước thế kỉ XVIII-XIX là làng nông nghiệp cộng thêm nghề thầy đồ và thủ công nghiệp. Làng Hành Thiện đứng thứ hai về số tiến sĩ, cử nhân cũng có kiểu cấu trúc ngành nghề như trên. Xuất thân kẻ sĩ của hai nước có khác nhau nên sắc thái ảnh hưởng của Nho cũng không như nhau.
Kẻ sĩ của vùng Giang Nam thời Minh-Thanh (Trung Quốc) phần nhiều từ thương nhân thành thị. Kẻ sĩ của Việt Nam trước sau vẫn gắn chặt với làng quê. Họ làm quan ở khắp nơi nhưng khi hưu trí lại trở về với quê hương, gắn bó với làng quê, một thành viên của làng quê. Bởi vậy Nho giáo Việt Nam là Nho nông thôn-Nho làng xã. Có thể vì vậy mà vào thế kỷ này Nho Việt Nam chưa bị một thế lực nào phê phán, tạo nên khuynh hướng “phản truyền thống” và nói chung hệ tư tưởng của Việt Nam chưa bước vào thời kỳ cận đại hóa, thậm chí ở vùng đồng bằng Bắc Bộ chưa có hiện tượng cận đại hóa như ở Trung Quốc, Nhật Bản. Vào những năm 80 của thế kỷ XIX, tư tưởng Nho giáo của Cao Xuân Dục là như vậy.


[1] Phần tiểu sử cụ thể xin xem bài viết của Cao Tự Thanh về cuốn Quốc triều hương khoa lục trong Tủ sách văn hiến Việt Nam – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh 1993, trang 14 – 16.
2 Dư Anh Thời, Sĩ hóa văn hóa Trung Quốc, Nhà Xuất bản Nhân dân Thượng Hải, bản in năm 1988, trang 521 – 531 – 537.

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

ĐÀN NAM GIAO Ở HÀ NỘI


G.DumoaTier
* Trích trong cuốn:
G. Dumoatier Les pagodes de Ha Noi-Ha Noi 1887
Nam giao là một ngôi điện lộ thiên ở giữa trời nơi các vị hoàng đế đích thân đến làm chủ tế trời.
 Nó gồm có một nền đất hình tứ giác, dựa ốp vào những bức tường, mỗi một dãy bậc thềm, lối đi vào chính hướng về phía nam, do đó có tên là Nam Giao, có nghĩa là thông với phương Nam
Chúng ta không được lầm lẫn những công trình di tích này với những nền đất có cùng hình dạng gọi là “tịch điền” mà người ta thấy trong tất cả mọi lỵ sổ của các tỉnh; đó là những ngôi đền để tưởng niệm đến vị hoàng đế Trung Hoa Thần nông, vị thần của nghề trồng trọt. Những viên quan tổng đốc hàng năm đến đó tế lễ và mở ra đường cày đầu tiên trong thửa ruộng.  Đàn Nam Giao chỉ có trong những kinh đô của vương quốc. Có một đàn ở Huế, cũng có một đàn xưa kia đã từng ở Hà Nội, khi thành phố này là nơi đóng đô của triều Lê.
 
Đàn Nam Giao(ở Huế)
 Đàn Nam Giao của Hà Nội nằm ở phía bên kia thuộc vùng ngoại ô của thành phố, trên con đường Huế [phố Huế ngày nay], gần làng Phong Vân1
Năm 1663, dưới triều hoàng đế Cảnh Trị2 điện đã có những tu bổ quan trọng. vài năm sau, dưới triều hoàng đế Vĩnh Trị-người cháu của nhà vua trên-người ta cho xây dựng trên nền đất lộ thiên một ngôi đền bên cạnh tòa nhà phụ tạo thành đôi cánh quay ngược lại
Năm 1680, một bài minh văn tưởng niệm về những công trình khác nhau này đã được khắc trên một tấm bia lớn bằng đá đen, dựng trên một bộ đỡ bằng đá   nguyên khối, phủ những hình khắc chạm đẹp.
Vào thời nhiễu loạn Tây Sơn và dưới vương triều Nguyễn, những tế lễ của hoàng đế đã diễn ra ở Huế. Đàn Nam Giao ở Hà Nội vẫn còn lưu giữ được một danh tiếng lớn lao của nơi thánh tích, bởi lẽ những kỷ niệm lịch sử và những truyền thống tôn giáo đã gắn bó với nơi này và những người dân nghèo đi lại trên con đường các quan vẫn thường rẽ vào nơi này nghỉ ngơi, tránh ánh nắng gắt của mặt trời.
Khoảng năm 1930, một đám cháy xảy ra do sự sơ ý của một vài người hành hương khi đang nấu cơm trong một dãy nhà phụ, đã thiêu hủy toàn bộ công trình.
Hà Nội từ lâu đã không là kinh đô của các vị hoàng đế An Nam, vì thế đàn Nam Giao không được xây dựng lại. Người ta chỉ cho xây ở nơi cách chỗ cũ vài trăm mét gần về phía làng Phong Vân một ngôi chùa, hiện nay vẫn còn. Ngôi chùa đó được các bà sư nữ phục vụ trông nom, có một vài mộ táng đáng chú ý, từ xa người ta đã chú ý đến hai chiếc cột dựng đứng.
Về phần các di tích cũ của các vị hoàng đế triều Lê thì hầu như hoàn toàn không có gì. Nền đất nguyên thủy tạo nên ở giữa những cánh ruộng một loại gò mộ có mặt bằng phẳng, bao phủ bởi nhiều mảnh vỡ vụn của gạch ngói, đá và đồ gốm.
Ở ngay gần kề đó ngổn ngang những mồ mả. Những người sùng tín không quên đến những đặc ân mà những linh hồn ở cạnh nơi thánh địa đó có thể được hưởng.
Đôi lan can bằng đá của bậc thềm lớn đến nay vẫn còn tồn tại. Nó bị vúi sâu trong lòng đất một nửa, trên đó có chạm khắc những hình đám mây vắt ngang qua những ngọn lửa. có lẽ phải quan tâm đến việc cứu vớt những di vật thất lạc đó của một công trình đã hoàn toàn bị phá hủy3.
Tấm bia tưởng niệm được bảo vệ trong một chiếc quán nhỏ xây gạch vẫn được giữ nguyên vẹn. Chắc chắn đó là công trình di tích đẹp nhất vào loại này ở trong xứ.
Văn bia viết bằng chữ Hán, sau đây là bản dịch:
“Văn bia kỷ niệm được soạn nhân dịp sửa chữa lại điện Chiêu Sự, đàn Nam Giao, gần thôn Phong Vân, tổng Kim Liên, năm thứ tư triều hoàng đế Vĩnh Trị nhà Lê*.
“Di tích này xưa kia gọi là điện Nam Giao, có thêm tên vào điện Chiêu Sự, vì và đấy là nơi để tế Trời.
Nhà vua đến tế lễ ở điện Nam Giao sẽ có được những phẩm chất rực rỡ nhất, cũng dễ cai trị vương quốc của mình như trở bàn tay.
Những vị quân vương triều Lê đã mở mang bờ cõi, đẩy xa biên thùy đến hàng nghìn dặm. Các ngài đã đúc chiếc đỉnh ba chân4, xây dựng thành quách để bảo vệ đất nước.
Khi dựng điện, các ngài đã tìm nơi chốn thích hợp, định hướng, tất cả những điều đó đều theo lễ thức, thuận ý trời.
Phương Nam là quê hương phát tích của nhà Lê, vì vậy bàn thờ của điện đã ngoảnh mặt về hướng Nam.
Ngay từ lúc khởi thủy, đã quyết định rằng hàng năm, cứ đến ngày 10 tháng giêng [âm lịch], sẽ làm lễ tế trời ở nơi này, và công việc đó sẽ tiến hành đến muôn đời sau.
Nhưng điện đã bị tổn hại qua năm tháng, bàn thờ bị hư hại, sơn họa trang trí bị tàn phai, không còn xứng đáng với thượng đế.
Phải đợi đến lúc một nhà vua sùng kính và uyên bác xuất hiện để đem lại cho di tích vẻ huy hoàng thích hợp.
Đức vua Vĩnh Trị, kế thừa và tiếp với những đức độ và truyền thống của triều Lê, đã dành thời gian làm hai việc: Việc thứ nhất là kính trời việc thứ hai là đặt nền trị bình cho dân chúng. Vậy mà, trong hai công việc đó, việc thứ hai trực tiếp phụ thuộc vào việc thứ nhất, để mong được trời phù hộ trong sứ mạng bình trị.
Ngày đầu tiên hàng năm, nhà vua có các quan đi tháp tùng, đã đích thân đến tế lễ ở bàn thờ điện Chiêu Sự Nam Giao nhưng vẫn coi điều đó là chưa đủ hết mực cung kính. Ngài bèn sai chọn ngày tốt lành, tập hợp các thợ mộc, chỉ bảo cách thức, sai đem đến những loại gỗ chắc để thay mới những cột, xà đã cũ của tòa điện.
Công việc được bắt đầu vào mùa thu, tháng chín năm Quý Mão, năm Cảnh Trị thứ nhất, hoàn thành vào cuối năm Giáp Thìn, năm thứ hai cùng niên hiệu [1663-1664].
Vẫn giữ nền móng rất cũ của điện Nam Giao xưa, nhưng những phần khác là làm mới. Không gì sánh được với vẻ đẹp của những trang trí nội thất và bên ngoài.
Tòa điện này có mục đích tôn vinh đức vua sùng kính đã trùng tu và làm đẹp công trình và ghi nhớ công đức của ngài mãi mãi, vì vậy văn bia này đã được khắc lên đá chẳng bao giờ mòn.
Những công đức của nhà vua Vĩnh Trị là vô kể, do vậy ngài sẽ phải được trường thọ.
Trời sẽ ban cho ngài năm điều phúc (ngũ phúc)5 và trong vạn năm con cháu ngài sẽ theo gương ngài hưởng phúc lộc.
Vinh lộc đại phu6 Hồ Sĩ Dương, Tham tụng Công bộ thượng tư, Đông các đại học sĩ, người xã Hoan Han [Hoàn Hậu?], huyện Qui Lưu [Quỳnh Lưu], đã soạn bài văn khắc này vào mùa đông năm thứ tư triều vua Vĩnh Trị”. 

1 Phong Vân: có nghĩa là gió và mây [thực ra, Đàn Nam Giao vẫn nằm bên trong thành Đại La nhưng lúc này (1887), người Pháp quan niệm nội thành Hà Nội chưa vương tới nơi này]
2 Vua Cảnh Trị hay Kiêng Trị có tên húy là Duy Cự, là nhà vua thứ 19 vương triều Lê, trị vì trong 9 năm. Trong lịch sử, nhà vua có tên là Lê Huyền Tông.
3 Chúng ta hãy nhắc lại một trong những quyền hạn, nghĩa vụ của Viện hàn lâm Bắc Kỳ do Pual Bert ký sắc lệnh thành lập ngày 03/07/1886.
“Thi hành những biện pháp để bảo tồn những tấm bia, những văn khắc và những di tích nào còn rải rác ở các nơi. Ghi tên đánh dấu, tìm kiếm nghiên cứu và đem những cái đó về nơi chắc chắn khi chúng ở trong những đền chùa bị hư nát hay không được bảo vệ hữu hiệu.
[* Cuối thế kỷ XIX, kinh lược Hoàng Cao Khải đã cho mang hai lan can đá này từ  Đàn Nam Giao về dinh cơ của mình ở ấp Thái Hà để làm thành bậc cho sinh từ của ông ta.]
* Tham khảo “Nam giao điện bi ký” trong: Tuyển tập văn bia Hà Nội. H. 1978 (TII), có khác biệt đôi chút. Có thể tấm bia của Dumoatier là một văn bia được khắc dập lại bia Vĩnh Trị trong thời Nguyễn.
4 Ẩn dụ của người Trung Hoa có nghĩa là thành lập một triều đại, ngụ ý việc phân chia Trung Hoa thành 3 nước (tam quốc) Ngụy, Thục, Ngô.
Chiếc đỉnh có 3 chân tượng trưng cho đế quốc, người ta thấy mô hình đó trong sách Lễ Ký, là đồ cúng thường xuyên trong những buổi tế lễ.
Những nhà vua đầu mỗi triều đại thường có tục lệ đúc một chiếc đỉnh tương tự để lưu truyền trong hoàng gia.
 Người ta nói rằng ở vùng sông Đà có Đinh Đức, thủ lĩnh xứ Mường Bi, vẫn còn giữ được cái đỉnh triều đại của nhà (họ?) Đinh. Tương truyền rằng chiếc vạc đó rất lớn, đến mức có thể nấu được 3 con bò cùng một lúc.
5 Ngũ phúc: phúc, quí, thọ, khang, minh (hạnh phúc, giàu sang, sống lâu, khỏe mạnh, bình an)…
Ngũ phúc được biểu tượng bằng những con dơi, có lẽ bởi vì hai chữ Hán có nghĩa là “hạnh phúc” và “con dơi” là đồng âm.
6 Từ khiêm tốn. Tước hiệu Vinh lộc đại phu (Excellence au unom glorieux) dành cho các quan có phẩm trật “tòng nhất phẩm”, là chức của các viên quan Thượng thư. Hồ Sĩ Dương phải ở trong hàng ngũ các quan “Chánh nhất phẩm” vì ông là “Đông các đại học sĩ” (Membre du Couseil”, do đó phải có tước vị cao hơn (Excellence au renom éclatant=Đại phu có tên tuổi chói lọi?)

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

Nghịch lý hệ thống thư viện

(HNM) - Trong khi nhiều thư viện công cộng được đầu tư tiền triệu, tiền tỷ, được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, đào tạo cán bộ phục vụ… phải đi tìm bạn đọc thì hệ thống thư viện tư nhân, tủ sách gia đình, dòng họ lại phát huy hiệu quả hơn cả mong đợi.
Từ thực tế đó, Bộ VH,TT&DL vừa kêu gọi toàn xã hội quan tâm tới thói quen đọc sách, phát triển vốn văn hóa đọc thông qua mô hình "Tủ sách gia đình","Thư viện thân thiện".
Nhu cầu đọc của người dân
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Giám đốc Công ty Sách Thái Hà cho hay: "Nếu như những năm trước, đến gia đình nào, công ty nào tôi cũng thấy người ta dành một vị trí trang trọng để bày rượu thì hiện nay, tủ rượu đã được thay bằng tủ sách. Tôi nhận được "đơn đặt hàng" nhờ tư vấn xây dựng tủ sách văn hóa của các gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư, thậm chí là doanh nghiệp nhiều đến mức việc tư vấn của tôi bận hơn cả công tác quản lý. Đây là tín hiệu đáng mừng bởi khi các phương tiện nghe, nhìn, internet phát triển như hiện nay thì người dân Việt Nam ta vẫn rất quan tâm, trân trọng thói quen đọc sách, báo". Ông Hùng cho biết thêm, có những địa phương thuần nông như xã Gia Hưng, huyện Gia Viễn (Ninh Bình), 28 gia đình nông dân đã "liên minh" với nhau bằng cách góp sách để thành lập tủ sách phục vụ nhu cầu đọc sách cho bà con trong xã. Hay như ở các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu,  Bạc Liêu, Sóc Trăng… hàng chục gia đình sẵn sàng bỏ ra từ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng xây dựng các tủ sách, vừa đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin, tri thức của gia đình, cộng đồng, vừa nêu gương sáng cho phong trào đọc sách ở cơ sở…


Thư viện tư nhân, tủ sách gia đình đang chiếm ưu thế so với
thư viện công cộng
 Nhìn vào những tủ sách gia đình hoạt động bền bỉ hàng chục năm qua sẽ thấy, đây là một trong những mô hình hiệu quả nhằm gìn giữ và phát huy văn hóa đọc trong cộng đồng dân cư. Điển hình như thư viện nhà ông Thăng, xã Đoàn Đào, huyện Phù Cừ (Hưng Yên). Hơn 20 năm hoạt động, thư viện của ông hiện có hơn 9.000 đầu sách, báo, mở cửa phục vụ miễn phí từ thứ hai đến thứ sáu hằng tuần, đón 20-30 lượt bạn đọc/ngày. Một tủ sách gia đình khác được rất nhiều người biết đến là "thư viện" của GS.TS Phạm Đức Dương ở căn hộ C4-35 Kim Mã Thượng, phường Cống Vị, Ba Đình (Hà Nội). Thành lập từ năm 1998, đến nay, thư viện thầy Dương có hơn 10.000 cuốn sách, hơn 50 loại báo, tạp chí tiếng Việt và nước ngoài cùng hơn 400 luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, phục vụ miễn phí sinh viên, nghiên cứu sinh, cán bộ giảng dạy ở Hà Nội tất cả các ngày trong tuần.
Theo thống kê, cả nước hiện có 46 thư viện tư nhân và hàng trăm tủ sách gia đình. Con số này đang tăng dần hằng năm.
Thư viện công cộng… ế
Ngược lại với xu hướng phát triển của thư viện tư nhân, tủ sách gia đình, hệ thống thư viện công cộng ngày càng teo lại do lượng bạn đọc ít. Một thư viện quốc gia; 63 thư viện cấp tỉnh, thành phố; 613 thư viện cấp huyện và gần 2.000 thư viện cấp xã trải đều khắp cả nước hiếm khi kín chỗ. Chẳng hạn như thư viện tỉnh Quảng Ninh với hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đội ngũ cán bộ phục vụ nhiệt tình nhưng có những ngày chỉ đón một vài bạn đọc. Chị Nguyễn Thị Tuyết Lan, Trưởng phòng Công tác bạn đọc, Thư viện tỉnh Quảng Ninh khẳng định, ngày đông nhất thư viện cũng chỉ có khoảng 30-40 người đến mượn sách. Cùng "cảnh ngộ", năm 2010, trung bình mỗi thư viện cấp huyện ở tỉnh Nam Định chỉ có 200 độc giả đăng ký thẻ, 9.400 lượt người đến đọc sách, tra cứu tài liệu.
Theo lý giải của nhiều cán bộ trong ngành thì đa số thư viện công cộng nằm ở các khu trung tâm, người dân có điều kiện hưởng thụ văn hóa thông qua nhiều kênh thông tin khác, trong khi thư viện lại có những quy định về quản lý sách báo, với lịch mở cửa gò bó, khiến bạn đọc không còn hứng thú. Thư viện tư nhân hay tủ sách gia đình được sinh ra từ nhu cầu có thực của gia đình, cộng đồng hay một nhóm đối tượng bạn đọc đặc thù (thư viện nhà ông Thăng dành cho bà con nông dân nghèo, thư viện thầy Dương dành cho sinh viên, nghiên cứu sinh) nên lượng bạn đọc luôn ổn định. Mặt khác, thư viện tư nhân mở cửa tất cả các ngày trong tuần, không bó buộc về giờ giấc, người trông coi thư viện cũng vì bạn đọc mà phục vụ tận tình, chu đáo nên bạn đọc có thể đến ngoài giờ học, giờ làm. Ông Bùi Đình Thăng, "giám đốc" thư viện của nhà chia sẻ: "Để có lượng sách phong phú, tôi đến các cơ quan, đơn vị mượn, xin sách về cho bà con. Hiểu tấm thịnh tình của tôi, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã tặng tôi nhiều cuốn sách quý". Tương tự, GS.TS Phạm Đức Dương kể: "Khuyến khích các em sinh viên khám phá kho tàng tri thức, tôi thường xuyên hướng dẫn cho các em lựa chọn sách đọc và cách đọc sách sao cho hiệu quả; đồng thời tổ chức các cuộc hội thảo khoa học để sinh viên yêu sách hơn". "Sự tận tình, sáng tạo phục vụ bạn đọc như ông Thăng, thầy Dương rất hiếm thấy ở các cán bộ thư viện được hưởng lương" - ông Nguyễn Hữu Giới, Phó Vụ trưởng Vụ Thư viện nói.
Với vai trò quản lý cấp vĩ mô, bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Vụ trưởng Vụ Thư viện khẳng định: Thư viện tư nhân hay tủ sách gia đình thực sự có ích trong đời sống sinh hoạt của người dân nên rất cần sự chung tay đóng góp của cộng đồng để lượng sách báo được bổ sung thường xuyên, liên tục. Hơn thế, nhìn vào hiệu quả hoạt động của thư viện tư nhân, tủ sách gia đình, Vụ Thư viện sẽ nghiên cứu và tìm ra hướng phát triển phù hợp cho thư viện công cộng trong giai đoạn hiện nay.
Đã thấy được nghịch lý, hy vọng các nhà quản lý sớm tìm ra lời giải cho bài toán phát triển hệ thống thư viện Việt Nam.
 Theo Hà Nội mới


Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011

Đi tìm tên cai ngục ác nhất trong lịch sử Việt Nam

Ông ta năm nay 83 tuổi, tên là Trần Nhu (thường gọi Bảy Nhu), sống ẩn dật trên một quả đồi, hàng ngày ăn chay niệm Phật và nem nép với nỗi ám ảnh tội lỗi. Ông ta biết rõ mình là quỷ đội lốt người, đã hành hạ, tàn sát bao nhiêu người trẻ ưu tú của non sông Việt. Thế nên, ngay cả lúc gần đất xa trời này, Bảy Nhu vẫn cứ đeo đẳng nỗi hốt hoảng vì sợ bị “ai đó” trả thù. Bảy Nhu tuyệt đối cấm chụp ảnh mình, cực kì hạn chế tiếp xúc với... đồng loại. Bởi vậy, ít ai biết viên cai ngục kì lạ, dị mọ, quái đản cổ đeo cả một ống bơ toàn răng tù nhân đó vẫn còn... sống.

Tên ác quỷ khét tiếng-Bảy Nhu
Từ thế giới “địa ngục trần gian” ở ngoài hòn đảo “thiên đường du lịch” Phú Quốc (Kiên Giang) trở về, tôi tiếp tục trò chuyện với người tù Cộng sản, ông Vũ Minh Tằng (71 tuổi, đang sống tại xã Vĩnh Hảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định). Ông Tằng mang đến “Bảo tàng Các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày” do ông Lâm Văn Bảng xây dựng (ở xã Nam Triều, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội) tặng... 9 cái răng của mình. Ông Tằng đã “phục kích” nhiều ngày, bới các đống phân của mình trong chuồng cọp biệt giam, để tìm và giữ bọc răng đó suốt hơn 30 năm ròng, sau khi tên cai ngục kia đánh gẫy của ông, bắt ông nuốt vào bụng mình toàn răng và máu... Nghe tôi kể Bảy Nhu còn sống, tôi khoe ra những bức ảnh và cả tiếng đồng hồ băng ghi âm từ đảo Phú Quốc, ông Tằng nghiến những chiếc răng già hổng hoác còn lại mà khóc: “Cái thằng ấy nó chưa chết ư? Ối trời ơi, nó vẫn còn sống thật không?”, rồi ông đau đớn hồi tưởng lại... 6 năm trời chết đi sống lại, bị tra tấn tàn độc bởi một bầy ác quỷ trong nhà tù. Ông Tằng lại thở hắt ra: “Nghĩ cho cùng, Nhà nước mình để cho nó (Bảy Nhu) sống là rất nhân đạo, cũng lại hóa ra rất tốt. Nếu nó không còn sống, thì ngoài hàng nghìn người đã chết chưa kể, còn hàng vạn người bị tra tấn bằng các trò của Quỷ Sa-tăng như tôi đây, có đem kể lại chuyện bị hành hạ, bị bắn giết, vứt xuống biển hết sức kinh dị cho con cháu nghe, chửa chắc đã có ai tin. Chuyện thật mà nó cứ xa xôi như ở cõi khác, ở kiếp khác ấy. Hóa ra, cái giống quỷ như thằng Nhu, lại vẫn có ích cho... đời”.
“Gậy biệt li”, “Vồ sầu đời” và cái “hữu ích” của việc Bảy Nhu còn sống!
“Bảy Nhu - viên cai ngục tàn ác nhất trong lịch sử Việt Nam!” - viết như vậy, tôi biết, sẽ có người cho tôi là hồ đồ, hoặc hơi quá... xúc động, khi gọi gọi Bảy Nhu như thế. Song, độc giả cứ cho phép tôi tạm gọi như vậy, vì những lí do rất đáng xem xét sau đây: “Đào bới” suốt sử sách - tư liệu của ngàn năm lịch sử, từ thời nguyên thủy, thời phong kiến, thời bị ách xâm lược của thực dân, đế quốc, tôi chưa bao giờ nghe, đọc, xem có một tù ngục nào dã man với viên cai ngục bằng xương bằng thịt mà lại kinh thiên động địa như cặp bài trùng khét tiếng: Thượng sĩ Bảy Nhu - nhà tù Phú Quốc. Tôi đã nhiều lần lục tìm bằng tất cả các nguồn tư liệu, sách báo, giai thoại, mà chưa thấy ở nơi nào, có lưu hành chuyện về đủ trò 24 ngón tra tấn “danh bất hư truyền” được ghi trong nhiều sử sách và... sổ sách (của nhà tù), được đặt tên “lâm li bi đát” như vậy cả (kiểu như “Vồ sầu đời”, “Gậy biệt li”...).
Các trò của Quỷ sứ, gồm: Đập vỡ mắt cá chân, dùng ván và đinh ốc ép cho vỡ lồng ngực tù nhân; dùng kìm rút móng chân móng tay, dùng giẻ tẩm dầu đốt cháy… dương vật; dùng cây sắt nhổ dần từng chiếc răng chính trị phạm; thậm chí cả: Móc mắt hoặc dùng bóng điện lớn để gần mắt cho đến khi mắt chín nổ “đòm đọp” mới thôi; luộc “phạm nhân” trong chảo nước sôi cho các “bạn tù” chiêm ngưỡng… Bạn đã nghe ở đâu có những chuyện như ở dưới ngục A Tỳ của ông Diêm Vương như thế chưa? - đấy là chưa kể, hàng nghìn nhân chứng còn sống sờ sờ ra đó với các phần thân thể tàn phế, câu chuyện của họ, những bức ảnh của họ, các hiện vật bảo tàng biết nói đang trưng bày ở Phú Quốc, TP HCM, Hà Nội. Đó là những lời tố cáo đanh thép nhất. Đế quốc đã cút, Ngụy quyền đã thảm bại, đảo Phú Quốc vẫn óng ả nắng vàng, vẫn mượt mà biển xanh, đích thị là một thiên đường du lịch, một con gà đẻ trứng vàng của ngành công nghiệp không khói Việt Nam trong thế kỉ 21. Nói chuyện xưa là để ngẫm chuyện nay, không hiểu sao, trong những chuyến bay TP HCM - Phú Quốc, những chuyến tàu xé toang mặt biển từ Rạch Giá đi An Thới, cái dự định tìm gặp bằng được tên đao phủ khét tiếng Trần Văn Nhu cứ ám ảnh tôi mãi. Anh em công an, bộ đội biên phòng, giới nhà báo, văn nghệ sĩ ở TP Rạch Giá đã kể với tôi nhiều chuyện về Bảy Nhu, dù hầu hết trong số họ chưa ai trông thấy Nhu bằng xương bằng thịt bao giờ! Chuyện nào cũng li kì, kinh dị như trong địa ngục, rồi ai cũng khuyên tôi nên bỏ ý định đi tìm Bảy Nhu. Có người bảo, ông Nhu không bao giờ chấp nhận gặp một ai nữa đâu, ông ta lánh đời, ăn chay trường, niệm Phật để mong sau này về cõi âm, đỡ phải bị “đền tội” thông qua việc bọn quỷ nó cho vào cối giã sống, hoặc hai tên quỷ ngồi hai bên, nhâm nhi cứa đứt cổ Nhu bằng một sợi dây đàn khò khử đêm ngày. Có người bảo, vì quá nhiều người muốn lén giết chết Nhu cho hả lòng lương thiện của mình, nên Nhu sống biệt tăm trong hang núi giữa một bầy chó béc-giê và hệ thống súng ống cướp được từ thời loạn lạc, ông ta dữ dằn tìm phương kế tự bảo vệ mình (?)... Lịch sử ghi rõ: Nhà tù Phú Quốc có diện tích hơn 400ha, gồm 44 phân khu, trong 7 năm tồn tại của mình (từ năm 1966 đến 1973 khi hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được kí kết, các bên trao trả tù binh), nơi đây đã giam giữ và tra tấn tàn độc với ít nhất 40.000 tù nhân cộng sản và thường dân yêu nước, trong đó khoảng 4.000 người đã chết thảm vì những trò tra tấn tàn độc nhất, ác quỷ nhất. Thi thể của họ bị ném xuống biển hay vùi lấp ven các cánh rừng, rông núi ngoài đảo xa. Năm 2009, tôi cũng đã có mặt, chứng kiến đội quy tập mộ liệt sỹ (k92) của Tỉnh đội Kiên Giang cất bốc, quy tập cả nghìn bộ hài cốt tù nhân ở khu vực nhà ngục Phú Quốc; vừa rồi trở lại, nhìn những cánh rừng tan hoang hang hốc bởi cuộc khai quật mồ liệt sĩ lớn nhất trong lịch sử Việt Nam đó, tôi đã khóc. Máy xúc máy ủi làm việc hết công suất, có hố chôn tập thể, gồm cả 500 bộ hài cốt, nhiều bộ xương, sau gần nửa thế kỉ bị chôn lấp, vẫn cứ đau đớn găm bên mình tới 16 cái đinh mười do cai ngục tra tấn khi xưa.

 Giáp mặt quỷ sống
Trong hồ sơ của Trại tù binh Cộng sản Phú Quốc, hiện còn lưu giữ hồ sơ về 24 ngón đòn tra tấn “bài bản và hiệu quả” mà các viên cai ngục đều đã thực hành, đúc rút, lưu truyền “nức tiếng”. Trong suốt mấy chục năm các ngón đòn độc địa kia đã giúp trại tù Phú Quốc vang danh với sứ mệnh của một địa ngục trần gian, nơi mà các viên cai ngục vào vai dã thú một cách hoàn hảo nhất. Còn các công trình, tác phẩm, tư liệu của nhiều tác giả, nhiều nhân chứng viết về nhà ngục Phú Quốc thì đều nhắc đến 45 hình thức tra tấn tù nhân độc ác ngoài sức tưởng tượng, trong đó đặc biệt “choáng váng” là những trò “sáng tạo vượt bậc” do Bảy Nhu và đồng bọn quái đản của chúng áp dụng trên thân thể chính đồng bào yêu nước của chúng, thông qua các dụng cụ tra tấn “danh bất hư truyền”: Vồ sầu đời và gậy biệt li. Rằng: Bị cái vồ ấy đã đụng vào là coi như sầu đời, chết ném xuống biển làm mồi cho cá dữ, sống thì cũng sầu đời mãn kiếp với các thương tật khiếp vía (vồ sầu đời); còn cái gậy ấy, ai đã bị nếm, coi như li biệt gia đình, đồng đội và cả... cõi dương gian (gậy biệt li). Hàng chục nhân chứng đã đem thân tàn ma dại của mình ra chứng minh cho sức mạnh của gậy biệt li, vồ sầu đời, cả các cái gậy cái vồ ấy đều đã được trưng bày tại Phú Quốc và nhiều địa phương, cả những bức ảnh nạn nhân đã chết và còn sống; cả các pho tượng tạc hình nhân bị tra tấn kinh dị nhất..., tất cả hiện lên trước mắt tôi, với lời thuyết minh của các nhân viên phòng trưng bày tại Nhà tù Phú Quốc. Nhưng, ngần ấy vẫn chưa thật sự ám ảnh và khiến tôi phải mất ăn mất ngủ vì sợ hãi, như là khi tới nhà gặp và trò chuyện với Bảy Nhu, kẻ đã từng vặn hàng ngàn chiếc răng của những người tù Cộng sản.
Sưu tầm